Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu, sản xuất và thị trường chuối trên thế giới 1. Sản xuất chuối trên thế giới Theo các số liệu thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới (2011) [30] được trình bày ở bảng dưới đây: Sản lượng chuối trên thế giới năm 2011 khoảng 107,142 triệu tấn. Trong đó dẫn đầu là Ấn Độ 29,666 triệu tấn, tiếp đến là Trung Quốc 10,705 triệu tấn, Philippin 9,165 triệu tấn, Ecuador 7,427 triệu tấn, Brazil 7.v… Việt Nam xếp thứ 16 về sản lượng với 1.
Sản lượng chuối thế giới năm 2011 TT Tên nước Sản lượng (tấn) 1 Ấn Độ 29.740 3 Trung Quốc, đại lục 10.852 Tổng sản lượng toàn thế giới 107. Tiêu thụ chuối tươi trên thế giới Theo Hoàng Bằng An và cs (2010) [2], hầu hết chuối xuất khẩu trên thị trường là các giống chuối thuộc nhóm Cavendish, được sản xuất trong các trang trại nhỏ và các đồn điền lớn. Có tới 26% sản lượng chuối Cavendish dùng cho xuất khẩu. Các nước xuất khẩu chuối chính ở Châu Mỹ Latinh gồm có Ecuado, Costa Rica và Colombia.
Châu Á có các nước xuất khẩu chuối chủ yếu là Philipin, Trung Quốc và Ấn Độ. Trong khi đó, xuất khẩu chuối chính ở Châu Phi là các nước Camơrun, Cote d’ivoire và ở vùng Caribe là Dominic và Windward Islands. Một số nước nhập khẩu chuối chủ yếu Năm 2009 Năm 2010 Tên nước Khối lượng Giá trị Khối lượng Giá trị (tấn) (USD) (tấn) (USD) Tổng số 27.000 Nguồn: FAOSTAT (2013)[30], Số liệu thống kê năm 2013[20] Hiện tại Pêru được đánh giá là nước có tiềm năng về xuất khẩu chuối với các vùng chuối an toàn như Tumbes, Piura và Lambayeque. Có tới gần 100% lượng chuối xuất khẩu của Pêru là chuối an toàn.
Riêng năm 2006, kim ngạch xuất khẩu chuối an toàn là 27 tỷ USD. Trong đó có tới 98% là chuối tươi và 2% là chuối sấy khô. Năm 2007, chuối tươi xuất khẩu của Pêru chủ yếu sang các thị trường truyền thống là Hà Lan và Mỹ, đạt trị giá khoảng 26,54 tỷ USD và chiếm trên 85% giá trị kim ngạch xuất khẩu chuối của Pêru. Giá xuất khẩu n 5 chuối trung bình của Pêru là 8,43 USD/thùng cao hơn mức giá trung bình của Ecuado chỉ là 6,5 USD/thùng [26].
Giai đoạn 2005-2008 các nước nhập khẩu chuối lớn trên thế giới là Vương quốc Bỉ, Mỹ, Đức… Có khoảng 17 nước nhập khẩu chuối đạt trị giá trên 100 triệu USD/năm [26]. Chuối là loại trái cây nhiệt đới được trồng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại rau quả toàn cầu. Theo số liệu của FAO, hàng năm toàn thế giới sản xuất trên 70-80 triệu tấn chuối. Trong đó, sản lượng chuối ở các nước đang phát triển chiếm tới 98% và chủ yếu được xuất khẩu sang các nước phát triển.
Tuy nhiên việc sản xuất cũng như xuất khẩu chuối thường tập trung vào một số nước nhất định. Năm 2005, có 10 nước sản xuất chính chiếm tới 75% sản lượng chuối thế giới. Chỉ riêng Ấn Độ, Ecuado, Brazin và Trung Quốc đã chiếm một nửa sản lượng chuối toàn thế giới. Nếu những năm 1980, các nước Mỹ Latinh và khu vực Caribê là khu vực sản xuất chuối chính của thế giới thì hiện nay khu vực Châu Á đã vượt lên dẫn đầu, tiếp theo là các nước Nam Mỹ và cuối cùng là Châu Phi.
Xuất khẩu chuối thế giới tập trung cao ở các nước đang phát triển với khối lượng lớn. Chỉ riêng các nước Mỹ Latinh và vùng Caribê cung cấp khoảng 70% tổng số chuối xuất khẩu của thế giới. Bốn quốc gia đứng đầu xuất khẩu chuối vào năm 2004 là Ecuado, Costa Rica, Philippin và Colombia chiếm khoảng 63% lượng chuối xuất khẩu thế giới. Riêng Ecuado cung cấp trên 30% lượng chuối xuất khẩu toàn cầu.
Tuy nhiên, lượng chuối xuất khẩu của các nước Mỹ Latinh và vùng Caribê có xu hướng giảm từ sau những năm 90 của thế kỷ XX. Trong khi đó, lượng chuối xuất khẩu của các nước Châu Á lại có xu hướng tăng lên [26]. Nhập khẩu chuối nhiều nhất là Liên minh Châu Âu, Mỹ và Nhật Bản, chiếm khoảng 67% khối lượng chuối nhập khẩu của thế giới vào năm 2004. Trong khoảng thời gian này có 10 nước đứng đầu, chiếm trên 80% chuối nhập n 6 khẩu của thế giới.
Một số các thị trường tiêu thụ mới nổi lên như Nga, Trung Quốc và các nước Đông Âu [26]. Chính sách nhập khẩu ở các nước rất khác nhau. Trong giai đoạn 1985- 2000, ở Mỹ không có biểu giá, không có hạn ngạch nhập khẩu và không có kiểm dịch thực vật đối với nhập khẩu chuối. Nhưng ngược lại ở Châu Âu lại có những thay đổi về chính sách nhập khẩu trong giai đoạn này.
Trong giai đoạn 1985- 1992 các nước trong cộng đồng Châu Âu đã có những thay đổi hệ thống quản trị, có sự ưu đãi đối với các lãnh thổ thuộc địa trước đây cho tự do nhập vào. Mặc dù vậy, khi có thị trường riêng vào năm 1993, đã có sự thay đổi về chế độ cho hài hoà hơn và theo quy chế hội đồng (EEC) 404/93 của Liên minh Châu Âu, đã đặt ra một tổ chức thị trường chung cho chuối [2]. Giá bán lẻ ở thị trường Mỹ thấp hơn đáng kể so với các thị trường khác, chủ yếu do thuế thấp hoặc do không áp dụng hạn ngạch đối với chuối nhập khẩu vào thị trường Mỹ và do chi phí vận chuyển thấp do vùng cung cấp gần. Giá bán lẻ chuối ở Châu Âu cao chủ yếu là do các nước này đều có quy định về hạn ngạch nhập khẩu.
Điều này chỉ có ở thị trường EU. Ở Nhật Bản giá bán chuối còn cao hơn do mức thuế nhập khẩu cao hơn cho dù chuối ở nước này còn rẻ hơn so với nhiều loại quả khác. Tiêu chuẩn nhập khẩu chuối trên thế giới cũng rất khác nhau. Yêu cầu chung là sản phẩm chuối có chất lượng cao, hương vị, kích thước và bề ngoài hấp dẫn.
An toàn thực phẩm đã trở thành vấn đề quan trọng. Người tiêu dùng ở Châu Âu rất quan tâm đến nguồn gốc, nhãn mác và thương hiệu của thực phẩm. Chất lượng chuối được xác định bởi chiều dài và độ săn chắc của quả. Yêu cầu chất lượng tối thiểu cho chuối theo 3 loại sau, theo tiêu chuẩn của Liên minh Châu Âu [2]: * Loại chuối “Extra”: Đây là loại chuối có chất lượng thượng hạng, có những đặc trưng nổi trội là vỏ rất mỏng, không có dấu hiệu nhiễm bệnh.
Loại chuối này có chất lượng và giữ được chất lượng kể cả trong quá trình bảo quản trong bao bì. n 7 * Chuối loại 1: loại chuối này bắt buộc phải có chất lượng tốt, có các đặc trưng về giống, các dấu vết trên vỏ nhỏ không đáng kể, không ảnh hưởng tới bề ngoài của sản phẩm. Loại chuối này cũng có chất lượng và giữ được chất lượng kể cả trong quá trình bảo quản trong bao bì. - Có hình dạng và màu sắc đẹp.
- Các khiếm khuyết trên vỏ ít, dấu vết khiếm khuyết không quá 2cm2 toàn bộ vỏ chuối. Trong bất cứ trường hợp nào không được làm ảnh hưởng tới phần thịt quả. * Chuối loại 2: loại chuối này không có chất lượng cao như những loại trên. nhưng vẫn phải đảm bảo thoả mãn các yêu cầu tối thiểu, các khiếm khuyết phải ở ngưỡng cho phép và giữ lại được những đặc trưng thông thường của chuối liên quan đến chất lượng và phẩm cấp: - Hình dáng và màu sắc giữ được những nét đặc trưng thông thường của quả chuối.
- Các vết xước, vảy, vết cọ xát, vết bẩn dưới 4 cm2 trên toàn bộ diện tích vỏ quả chuối. Trong bất cứ trường hợp nào không được làm ảnh hưởng tới phần thịt quả. Tóm lại - Trên thế giới sản xuất chuối ngày càng phát triển, chất lượng chuối ngày càng nâng cao. Đáng chú ý là cho đến nay đã có một số nước như Pêru sản xuất chuối theo quy trình an toàn với những vùng sản xuất tập trung quy mô lớn đáp ứng nhu cầu nhập khẩu ngày càng cao và khắt khe của các nước thuộc cộng đồng Châu Âu.
- Các nước xuất khẩu chuối chủ yếu thuộc khu vực Châu Á. - Các nước nhập khẩu chuối chủ yếu là các nước phát triển nhất là các nước thuộc cộng đồng Châu Âu, Mỹ và các nước Trung Đông. Tình hình nghiên cứu trên thế giới * Nghiên cứu chọn tạo giống chuối Các loại chuối ăn được hiện nay bắt nguồn từ loài Musa acuminata mang n 8 kiểu gen A hoặc từ loài Musa balbisiana mang kiểu gen B hoặc từ cả hai. Nhiều giống chuối nhị bội thể, tam bội thể hoặc tứ bội thể đã được tạo ra do quá trình lai tạo giữa những genome A và genome B và còn rất nhiều giống được tạo nên từ biến dị soma.
Các giống có genome B có tính chống chịu tốt hơn. Simmon và Shepherd (1955) [42] đã đưa ra 15 chỉ tiêu về hình thái và thang điểm để phân loại chuối ăn được theo các nhóm AA, AB, AAA, AAB, ABB, ABBB. Các giống chuối ăn tươi thuộc genome AA hoặc AAA. Chuối tiêu thuộc nhóm phụ Cavendish mang kiểu gen AAA.
Đây là nhóm phụ cực kỳ quan trọng trong giao dịch thương mại chuối cho cả nhu cầu xuất khẩu hoặc nội tiêu. Chiều cao của các giống trong nhóm này biến động rất lớn trong khoảng từ 1,8 -5m nên được chia ra 4 loại như sau: - Loại Dwarf Cavendish hay còn gọi là tiêu lùn Dwarf Cavendish còn có tên gọi khác là Canary, Dwarf Chinese, Basrai, Governor và Enano. Các giống thuộc loại này có chiều cao khoảng 1,5 - 2,0 m trong chu kỳ đầu. Nếu tiếp tục giữ chồi để thu hoạch trong các chu kỳ 2,3,4 thì chiều cao càng cao có thể lên đến 2,2-2,4m.
Tuy nhiên, chu vi thân giả hầu như không đổi, biến động từ 0,8-1,0 m. Các giống chuối tiêu lùn được phát triển rất rộng và chu kỳ kinh doanh ngắn nhất, năng suất cao, chịu được gió bão. Tuy nhiên Dwarf Cavendish thường bị bệnh sinh lý “nghẽn cổ” (choke throat) nên đã và đang được thay bằng giống cao hơn là chuối tiêu vừa như Williams, Grand Nain. Đặc điểm chung quan trọng của những giống này là không bị bệnh sinh lý “nghẽn cổ” và năng suất, chất lượng cao hơn.
Ở vùng á nhiệt đới, ngoại trừ Israel, những giống chuối này thường bị nhiễm bệnh héo vàng Fusarium nòi (race) 4, nên đang dần được thay bằng giống đột biến AAA chịu đựng được Fusarium nòi 4 như giống Tai Chiao no.1 của Đài Loan ở những vùng nhiễm bệnh nặng [33].