Đặt vấn đề Cây ngô là cây lƣơng thực quan trọng cung cấp lƣơng thực cho con ngƣời và thức ăn cho vật nuôi, đứng thứ hai sau cây lúa, đứng thứ ba về diện tích tuy nhiên năng suất và chất lƣợng lại cao nhất trong các cây cốc (Ngô Hữu Tình, 2009) [24]. Trong các yếu tố làm tăng năng suất cây trồng thì phân bón có ảnh hƣởng lớn nhất. Thực tế cho thấy, việc sử dụng phân bón theo phƣơng pháp bón vãi thông thƣờng gây ra những tác động tiêu cực không chỉ ở việc làm giảm hiệu suất sử dụng phân bón, tăng chi phí đầu vào của ngƣời nông dân mà nó còn có tác động xấu tới môi trƣờng đất, nƣớc, không khí. Do đó cần có một giải pháp làm tăng hiệu quả kinh tế cũng nhƣ hiệu quả sử dụng phân bón là một yêu cầu bức thiết đặt ra.
Việc sử dụng phân viên nén đƣợc khẳng định là khắc phục đƣợc tình trạng rửa trôi, bay hơi, liên kết với đất chặt hơn so với bón vãi thông thƣờng. Dùng phân viên nén tiết kiệm đƣợc 35 - 40% lƣợng phân so với bón vãi, làm tăng 15 -19% năng suất ở lúa, ít sâu bệnh do ruộng thông thoáng (Nguyễn Tất Cảnh, 2005)[4]. Thí nghiệm bón phân viên nén cho ngô đã đƣợc tiến hành năm 2006, 2007 tại Quảng Uyên, Cao Bằng; năm 2008 tại Sơn La đã làm tăng năng suất 12 - 20% (Nguyễn Tất Cảnh, 2008)[6] tiết kiệm đƣợc 20 - 30% chi phí bón phân do chỉ phải bón một lần trong cả vụ (Đỗ Hữu Quyết, 2008)[20]; Kết quả thí nghiệm về bón phân viên nén hữu cơ trên đất cát Quảng Bình cho thấy, số lần bón phân viên nén hữu cơ khoáng chậm tan đƣợc chia làm 3 lần bao gồm bón lót, bón thúc khi ngô 3 - 4 lá và khi ngô 6 - 7 lá cho các chỉ tiêu sinh trƣởng và năng suất ngô cao nhất (Phạm Đức Ngà và cs, 2012)[14]. Ƣu điểm chính của các loại phân chậm tan là phân bón đƣợc cung cấp từ từ, cây lúc nào cũng có đủ dinh dƣỡng, giảm chi phí lao động cho việc bón n 2 phân, phun thuốc, hạn chế độc hại cho môi trƣờng.
Tiềm năng sử dụng phân chậm tan sẽ là rất lớn, đặc biệt là ở những nơi có nguy cơ bị mất đạm lớn và đối với những cây trồng có bộ rễ ăn nông (Balkcom, K. S và cs, 2003)[29]; các thí nghiệm áp dụng các loại phân này cho thấy khi bón cho bông làm giảm đƣợc 40% lƣợng đạm bón, làm tăng năng suất lúa mỳ 20% (Hutchinson R. Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Đất đai của Yên Bái đa dạng về chủng loại, đất nông nghiệp chiếm tới 79,59% tổng diện tích tự nhiên, nhƣng phần lớn diện tích là đât dốc.
Độ dốc trung bình 25 – 300, có nơi độ dốc trên 450. Năm 2013, diện tích trồng ngô của tỉnh Yên Bái là 26,7 nghìn ha, năng suất 49,2 tạ/ha, sản lƣợng 84,4 nghìn tấn; (Tổng cục thống kê, 2015)[39]. Nhƣ vậy, ở tỉnh Yên Bái, cây ngô có diện tích sản xuất lớn nhƣng năng suất còn thấp so với năng suất trung bình của cả nƣớc. Một trong những nguyên nhân năng suất thấp là do sản xuất trên đất dốc với kỹ thuật canh tác truyền thống, chƣa áp dụng các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, đặc biệt là trong đó sử dụng phân bón.
Ở đất đồi núi, ngƣời dân chƣa chú trọng đầu tƣ bón phân cho ngô, mức bón còn rất thấp, tỷ lệ NPK vẫn còn mất cân đối (tỷ lệ kali còn rất thấp so với tỷ lệ đạm, lân). Do trình độ dân trí còn thấp, tập quán canh tác lạc hậu không thâm canh hoặc mức thâm canh thấp, vẫn chủ yếu dựa vào độ phì của đất và tâm lý ƣa chuộng phân đạm của nông dân nên việc tăng bón đạm đã làm trầm trọng thêm sự mất cân đối dinh dƣỡng trong đất làm hiệu quả kinh tế sử dụng phân bón chƣa cao. Việc sử dụng nhiều phân vô cơ tuy có làm tăng năng suất, sản lƣợng nhƣng lại gây ảnh hƣởng đến môi trƣờng và sức khoẻ của cộng đồng. Bón phân theo phƣơng pháp truyền thống không những tốn kém mà còn gây lãng phí do hiệu quả sử dụng phân thấp, phân bón có thể mất do bay hơi, rửa trôi, nhất là ở những vùng đất dốc dẫn đến chi phí đầu tƣ trên một đơn vị diện tích tăng, hiệu quả kinh tế đem lại thấp.
n 3 Tỉnh Yên Bái đã áp dụng phân viên nén dúi sâu cho cây lúa đem lại hiệu quả kinh tế cao. Việc sử dụng phân viên nén cho cây trồng trên đất dốc liệu có đem lại hiệu quả kinh tế cao hay không thì chƣa đƣợc nghiên cứu ở tỉnh Yên Bái. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân viên nén đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống ngô LVN99 trên đất dốc tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái”. Mục tiêu của đề tài Xác định đƣợc công thức phân viên nén thích hợp cho giống ngô LVN99 trên đất dốc tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Giúp sinh viên trau dồi kiến thức và vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế một cách khoa học. - Nâng cao trình độ chuyên môn, tác phong làm việc nghiêm túc, đúng đắn, sáng tạo và có đƣợc những kinh nghiệm quý báu. - Biết cách thực hiện một báo cáo nghiên cứu khoa học và có kinh nghiệm để làm khóa luận tốt nghiêp.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở bƣớc đầu cho việc sử dụng phân bón phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng. Ý nghĩa thực tiễn Xác định đƣợc lƣợng phân viên nén thích hợp cho giống ngô lai trên chân đất dốc huyện Văn Yên nói riêng và của tỉnh Yên Bái nói chung, góp phần tăng năng suất, sản lƣợng ngô trên đất dốc, tăng hiệu quả kinh tế, giúp nông dân tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo. Kết quả nghiên cứu về phân viên nén cho ngô trên đất dốc ở tỉnh Yên Bái có thể áp dụng ra một số tỉnh khác lân cận ở vùng miền núi phía Bắc Việt Nam. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Cơ sở khoa học của đề tài Đất dốc ngày càng có vai trò quan trọng trong điều kiện dân số tăng nhanh, biến đổi khí hậu, tăng đầu tƣ để nâng cao năng suất, chất lƣợng lƣơng thực, thực phẩm.
Đất dốc giàu tiềm năng nhƣng đang bị thoái hoá nghiêm trọng do việc canh tác chƣa thực sự khoa học. Trong thời gian gần đây, Chính phủ, các nhà khoa học của Việt Nam và trên thế giới quan tâm đặc biệt đến vấn đề canh tác bền vững trên đất dốc theo xu hƣớng bảo vệ và cải thiện độ phì đất để duy trì năng suất cây trồng cao và bền vững. Năng suất cây trồng tăng nhờ nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quan trọng là phân bón. Theo đánh giá của các nhà khoa học Mỹ trong hệ thống các biện pháp tăng năng suất cây trồng, phân bón chiếm tỷ trọng 41%, thuốc bảo vệ thực vật chiếm tỷ trọng 13 – 20%, thời tiết thuận lợi 15%, sử dụng hạt giống lai 8%, tƣới tiêu 5% và các biện pháp kỹ thuật khác 11 – 18%.
Ở Đức, các chuyên gia đánh giá tỷ trọng của phân bón trong việc tăng năng suất cây trồng là 50% và ở Pháp là 50 – 70%. Ở Việt Nam, theo số liệu của Viện Thổ nhƣỡng Nông hóa về tình hình sử dụng phân bón ở nƣớc ta trong vòng 20 năm trở lại đây, tỷ trọng này là 40 – 50%. Với tỷ trọng này thì các loại cây trồng theo đánh giá của bà con nông dân đã cho năng suất cao. Thành quả của phân viên dúi sâu đã đƣợc chứng minh trên cây lúa.
Cây ngô, sắn cũng là những cây lƣợng thực quan trọng, cần đƣợc quan tâm và tăng năng suất để sao cho ngày càng đem lại hiệu quả kinh tế cho ngƣời nông dân, góp phần vào việc xoá đói giảm nghèo. Các kết quả nghiên cứu ở nƣớc ngoài cho thấy có thể sử dụng phân viên chậm tan để giảm lƣợng phân bón và tăng năng suất ngô. Tuy nhiên, những loại phân chậm tan của nƣớc ngoài thƣờng có giá thành cao do sử dụng các chất hoá học (lƣu huỳnh) và khi bón nhiều n 5 vào trong đất có thể gây ảnh hƣởng đến môi trƣờng (phân bọc polymer) và hiệu quả của chúng phụ thuộc nhiều vào môi trƣờng bên ngoài nhƣ độ ẩm, mặt khác nơi sản xuất ở xa so với nơi sử dụng dẫn đến chi phí vận chuyển cao, hơn nữa do tính đa dạng về loại đất nên các loại phân trên khó đáp ứng đƣợc nhu cầu dinh dƣỡng cả về lƣợng và tỷ lệ cho cây trồng. Để khắc phục những trở ngại trên Trƣờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã nghiên cứu và sản xuất loại phân viên nén có chứa các chất điều tiết việc giải phóng các chất dinh dƣỡng trong phân bằng nguyên liệu sẵn có trong nƣớc và có thể sản xuất ngay tại địa phƣơng.
Điểm khác biệt của phân viên nén đƣợc sản xuất bởi Trƣờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội với các loại phân chậm tan trên thế giới là ở chỗ đạm không phải đƣợc bọc lại và đạm đƣợc kết hợp với các chất phụ gia cho vào trong viên phân để tạo thành các hợp chất đạm khó tan hơn, đạm và các chất dinh dƣỡng đƣợc bọc lại trong những “viên phân” nhỏ hơn trong một viên phân lớn hơn. Để cho viên phân khi bón vào đất nhanh chóng hút nƣớc hoà tan, phân hoá học đƣợc trộn với một lƣợng nhỏ các chất hữu cơ. Trong điều kiện đất cây trồng cạn có nhiều khe hở, phân có thể bị mất đi dƣới dạng bay hơi, để khắc phục tình trạng này sau khi bón phân viên nén trên đất dốc trồng ngô, sắn đƣợc che phủ bởi nilon tự huỷ hoặc có thể dùng thảm tàn dƣ cây trồng, về sau có thể sử dụng các nguyên liệu hữu cơ địa phƣơng (tàn dƣ thân lá ngô, rơm rạ, cỏ v.) để sản xuất các tấm thảm che phủ cho ngô. Các biện pháp trồng xen để giữ độ ẩm cũng đƣợc khuyến khích áp dụng.
Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam 2.Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Trên thế giới có nhiều giả thuyết về nguồn gốc cây ngô, những nghiên cứu về di truyền học gần đây cho rằng quá trình thuần hóa diễn ra vào khoảng năm 7000 TCN tại miền trung Mexico và tổ tiên của cây ngô là loại cỏ n 6 teosinte hoang dại hiện vẫn còn mọc trong lƣu vực sông Balsas (miền trung Mexico).