Đặt vấn đề Viê ̣t Nam là đấ t nước nằ m trong vùng khí hâ ̣u nhiê ̣t đới ẩm gió mùa, có nguồ n tài nguyên cây thuố c rấ t phong phú và đa da ̣ng về chủng loại lẫn công dụng làm thuốc. Đất đai, khí hậu phù hợp với nhiều loại cây trồng, trong đó có nhiều loại cây thuốc quý xuất xứ từ các nguồn khác nhau. Theo thống kê của Bộ Y tế, Việt Nam sở hữu nhiều loài dược liệu quý, hiếm, đặc hữu; quá trình điều tra về tri thức bản địa đã tổng hợp được danh lục các loài cây thuốc từ cộng đồng các dân tộc và thu thập, sưu tầm được gần 1.300 bài thuốc dân gian trên cả nước. Tính đến cuối năm 2015, đã ghi nhận 5.117 loài thực vật và nấm, 408 loài động vật và 75 loại khoáng vật có công dụng làm thuốc.
Trong số đó, khoảng 70 loài có tiềm năng khai thác với tổng trữ lượng khoảng 18.000 tấn/năm, như Diếp cá (5.000 tấn), Cẩu tích (1.500 tấn), Lạc tiên (1.500 tấn), Rau đắng đất (1. Tuy nhiên, về mặt khoa học rau đắng đất chưa được nghiên cứu đầy đủ, các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam phần lớn đang tập trung nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng mà không có nghiên cứu một cách hệ thống về thực vật, khả năng phát triển, điều kiện ngoại cảnh hay ảnh hưởng của kỹ thuật canh tác đến thành phần hóa học của cây. Vì vâ ̣y, với mong muố n tìm hiể u đầ y đủ hơn về cây Rau đắ ng đấ t để nâng cao giá tri ̣ sử du ̣ng chúng tôi tiế n hành nghiên cứu đề tài: ““Đánh giá ảnh hưởng một số mẫu giống và phương thức nhân giống (invitro, giâm cành, gieo hạt) đến sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng cây rau đắng đất (Glinus oppositifolius (L.) trồng tại Gia Lâm, Hà Nội ”. Mu ̣c đích và yêu cầ u 1.
- Đánh giá đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất chất lượng 5 mẫu giống làm cơ sở tuyển chọn giống rau đắng đất. - Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển, năng suất, chất lượng cây từ 3 phương thức nhân giống khác nhau: invitro, giâm cành và gieo hạt nhằm tìm ra phương thức nhân giống tốt nhất. So sánh sự sinh trưởng, phát triển và năng suất một số mẫu giống rau đắng đấtvà ở các phương thức nhân giống khác nhau. 2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Giới thiệu chung về cây rau đắng đất: 2. Nguồn gốc và vị trí phân loại của cây rau dắng đất Rau đắng đất (Glinus oppositifolius (L. DC) có vị đắng, tính mát, có tác dụng kích thích tiêu hóa, lợi tiểu, nhuận gan, hạ nhiệt và có khả năng chống oxy hóa giảm gốc tự do trong tế bào và các nhà khoa học mới đây còn phát hiện ra một số thành phần hoạt chất có tác dụng chống ung thư… (Chakraborty & cs. Ở Việt Nam, rau đắng đất ngoài việc sử dụng trong ẩm thực (sử dụng làm rau sống, nấu canh chua…) còn được dùng trong các bài thuốc đông y để chữa bệnh hạ sốt, viêm bàng quang, viêm đường tiểu tiện, đái buốt, sỏi sạn, rụng tóc,chữa bệnh về gan và trị vàng da….
Hiện nay, Công ty Cổ phần Traphaco đã sử dụng sản xuất ra thuốc Boganic (thành phần chính: Rau đắng đất, Astiso, Bìm bìm)tác dụng nhuận gan, lợi mật, thông tiểu, giải độc gan. Mặc dù giá trị và nhu cầu sử dụng rau đắng đất ở Việt Nam rất nhiều, nhưng nguồn dược liệu này trong những năm qua chủ yếu thu hái từ tự nhiên, có một số nơi sản xuất nhưng quy mô còn nhỏ lẻ, thiếu tập trung và phương pháp chủ yếu được áp dụng là để hạt từ vụ này sang vụ khác. Tuy nhiên, hạt rau đắng đất rất nhỏ, tỷ lệ mọc mầm kém và đặc biệt thời gian mọc mầm kéo dài, cây con sinh trưởng rất chậm, chất lượng không đồng đều, điều này ảnh hưởng đến chất lượng dược liệu. Để đáp ứng được nhu cầu dược trong nước, việc nghiên cứu nhân nuôi cây rau đắng đất là nhu cầu tất yếu.
Việc nghiên cứu và triển khai các biện pháp nhân giống sẽ cung cấp những cơ sở khoa học và thực tiễn để tạo ra nguồn nguyên liệu ổn định, chất lượng và an toàn cho ngành sản xuất dược đồng thời duy trì bảo tồn và phát triển cây rau đắ ng đấ t. Vị trí phân loại Rau đắng đất có tên khoa học Glinus oppositifolius L.DC (hay còn gọi là Mollugo oppositifolia L.) thuộc chi Glinus, họ rau đắng (Molluginaceae), bộ cẩm chướng (Caryophyllales), Lớp ngọc lan (Magnoliopsida), giới thực vật bậc cao (Cormobionta). Đặc điểm thực vật của họ rau đắng (Molluginaceae) Thường là cây cỏ, lá mọc đối, mọc so le hoặc mọc gần vòng. Không có lá kèm hoặc lá kèm nhỏ và biến mất sớm.
Hoa đều, lưỡng tính, mọc đơn độc hay mọc thành hình xim, thường nhỏ và không rõ rệt; lá đài rời hay liền ở gốc, cánh hoa nhỏ hay không có; nhị thường thấp dưới nhụy, mọc quanh nhụy, nhị có thể hữu hạn hay vô hạn; chỉ nhị dời hay dính vào nhau ở gốc; bao phấn 2 ô, mở bằng kẽ nứt dọc. Bầu hợp lá noãn (trừ Giseka), bầu thường nhiều ô, số vòi (núm) nhụy thường bằng số ô; noãn cong. Quả khô tự mở theo kiểu chẻ ô hoặc nứt bằng kẽ ngang, ít khi không mở, đài tồn tại bao quanh quả; hạt có nội nhũ, phôi cong hoặc bao quanh phía ngoài. Họ này chủ yếu mọc ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và nhiều loài ở châu Phi.
Ở Việt Nam có 3 chi Mollugo, Gisekia, Glinus.3 Đặc điểm thực vật của chi Glinus Phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở Việt Nam có 3 loài. Rau đắng đất phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, từ Ấn Độ đến Malaysia, Campuchia, Việt Nam và đảo Hải Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, Rau đắng đất phân bố dọc theo các tỉnh ven biển, từ Nam Định đến vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Cây ưa sáng, thường mọc trên đất pha cát ở các ruộng hoang, các hố nông cạn nước về mùa khô, đôi khi thấy cả ở quanh làng, ven đường đi. Do khả năng phân nhánh khỏe, nên cây thường mọc thành đám dày đặc, lấn át các loại cỏ khác. Cây ra hoa quả nhiều năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt. 4 Cây trong chi Glinus thường là cây hàng năm hoặc cây lâu năm, cây thường rạp xuống, lá không có lông hoặc lông nhỏ.
Lá có cuống ngắn, mọc đối hay mọc vòng, hình bầu dục, hình thuôn, hình trái xoan hoặc dạng hình đao. Lá thường là lá nguyên. Cụm hoa ở nách lá, thành bó ít hoa, có cuống. các cành bao hoa thường không bằng nhau, có mép dạng vẩy.
Nhị 3 – 30, nhị rời hoặc hợp thành bó ở loài có nhiều nhị. Bầu thượng, hình trái xoan hay thuôn, có 3 – 5 ô nhiều noãn. Đầu nhụy thẳng hay cong. Quả nang mở với 3 – 5 ô, hạt có mống kéo dài quấn lấy hạt.
Chi Rau đắng (Glinus) là chi thực vật có hoa gồm các loài cây nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc họ Molluginaceae được mô tả lần đầu tiên bởi Carl Linnaeus. Chúng chủ yếu là các loài thân thảo hàng năm, lá có phủ lớp lông mờ. Hạt hình thận được chứa trong quả nang. Hầu hết chúng đều được con người sử dụng thường xuyên, một số loài dùng làm cây thuốc, một số loài dùng làm thực phẩm.
Theo Lecomete (1951), có viết chi Glinus có 20 loài, được phân bố ở các vùng nhiệt đới, trong đó Châu Á có 7 loài. Theo Võ Văn Chi (1997), chi Glinus có 10 loài, phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở Việt Nam có 3 loài, trong đó có 2 loài thông dụng là Glinus oppositifolius (L.) và Glinus lotoides L. Đặc điểm thực vật rau đắng đất (Glinus oppositifolius L.Đặc điểm hình thái Cây thân thảo, sống hàng năm.
Thân và cành mảnh, mọc tỏa sát mặt đất, dài và nhẵn. Lá mọc vòng 2 – 5 lá, không đều nhau, lá hình bầu dục ngược dài, thuôn dần ở phần cuống, lá kèm rất nhỏ, sớm rụng. Cụm hoa hình tán không cuống, có lá bắc ở gốc, gồm 2 – 5 hoa. Hoa màu lục nhạt.
Mảnh bao hoa 5, hơi không đều, các lá đài ở phía ngoài ngắn hơn và có màu lục đậm hơn các lá đài trong. Nhụy có bầu thuôn dần ở đỉnh, 3 ô, 3 vòi nhụy uốn cong, ngắn, ở đỉnh có răng và hơi phình rộng. Quả 5 nang thuôn dài 3 – 4mm, mở bởi 3 – 4 van. Hạt hình thận.
Mùa hoa quả vào tháng 4 – 7. Rễ Rau đắng đất đều là rễ cọc gồm rễ chính ăn sâu và hệ thống rễ bên rất phát triển, rễ góp phần rất lớn vào quá trình nâng đỡ của cây. Thân: Tiết diện gần tròn. Tế bào biểu bì hình chữ nhật, kích thước không đều.
Lớp cutin mỏng, có răng cưa. Trên biểu bì có nhiều lỗ khí và lông che chở đa bào. Mô mềm vỏ gồm 3 lớp tế bào hình bầu dục, không đều nhau, sắp xếp lộn xộn chừa những khuyết nhỏ. Trụ bì gồm 2-3 lớp tế bào hình đa giác, không đều, hóa mô cứng tạo thành vòng liên tục.
Các bó libe gỗ tạo thành vòng liên tục. Tia tuỷ hẹp, 1- 2 dải tế bào. Libe 1 tập trung thành từng đám. Mạch gỗ 2 phân bố đều.
Mô mềm tủy to, hình bầu dục hay hình tròn, sắp xếp chừa những khuyết nhỏ. Lá: Lá đơn, mọc vòng 3 - 5 lá không đều nhau, lá đơn nhất dài 1,2 - 1,6 cm, rộng 0,4 - 0,6 cm, lá nhỏ nhất dài 0,4 - 0,5 cm, rộng 0,15 - 0,2 cm. Lá hình thon ngược, mũi có răng nhọn, gốc hình chót buồm, mép lá có răng cưa thưa và cạn, mặt trên lá có màu xanh đậm, mặt dưới nhạt hơn. Cuống lá ngắn 0,2 - 0,3 cm, màu nâu đỏ, không lông, có 1 gân chính, gân phụ không rõ.
6 Gân giữa: Mặt trên lõm, mặt dưới lồi. Tế bào biểu bì hình đa giác, kích thước không đều, biểu bì trên to hơn tế bào biểu bì dưới. Lớp cutin mỏng, có răng cưa. Libe và gỗ tạo thành vòng cung, gỗ ở trên libe ở dưới.
Gỗ phân hóa ly tâm. Các tế bào libe nhỏ, hình đa giác, sắp xếp lộn xộn, tập trung thành từng đám úp trên đầu gỗ 1. Phiến lá: Tế bào biểu bì trên và biểu bì dưới kích thước bằng nhau, trên biểu bì có nhiều lỗ khí và lông che chở đa bào. Mô mềm đạo gồm 2 dạng: 1 lớp tế bào hình chữ nhật dài, kế tiếp là các tế bào mô mềm hình đa giác không đều.
Trong mô mềm có nhiều hạt tinh bột.