CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sản suất đậu tương ở trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất trên thế giới Cây đậu tương là cây trồng lấy dầu quan trọng nhất trên thế giới, đứng ở vị trí thứ 4 trong những cây lương thực và thực phẩm sau lúa mì, lúa nước, và ngô. Hơn nữa đậu tương còn là cây có giá trị dinh dưỡng, kinh tế cao, khả năng thích ứng rộng, đặc biệt cây đậu tương có khả năng cải tạo đất rất tốt.
Vì vậy mà cây đậu tương được trồng ở khắp mọi nơi trên thế giới, nhưng tập trung nhiều nhất ở châu Mỹ chiếm trên 70% diện tích, tiếp đến là châu Á. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong những năm gần đây được thể hiện trong bảng 1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới từ năm 2005 -2009 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (Triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2005 92,5 23,2 214,3 2006 95,2 22,9 218,4 2007 95,1 23,8 219,5 2008 96,9 23,8 230,6 2009 98,8 22,5 222,3 (Nguồn: FAO, 2010 [21] 5 n Số liệu ở bảng 1.1 cho thấy trong vòng 5 năm qua diện tích trồng đậu tương trên thế giới đã tăng 6,3 triệu ha, năng suất đậu tương ổn định, biến động trong khoảng 22,5 – 23,8 tạ/ha. Tuy nhiên do diện tích trồng đậu tương không ngừng được mở rộng từ năm 2005 -2009, do đó sản lượng đậu tương năm 2009 tăng thêm 8 triệu tấn so với năm 2005.
Các nước trồng nhiều đậu tương trên thế giới là Mỹ, Biaxin, Achentina,Trung Quốc và Ấn Độ. Diện tích, năng suất và sản lượng của một số quốc gia sản xuất đậu tương trên thế giới năm 2009 Diện tích Năng suất Sản lượng Tên nước (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Mỹ 30,9 29,5 91,4 Braxinge 21,7 26,2 56,9 Achentinant© 16,7 18,4 30,9 Trung Quốc 8,8 16,4 14,5 Ấn Độ 9,6 10,6 10,2 (Nguồn: FAO, 2010)[21] Theo thống kê của FAO, Mỹ là quốc gia có diện tích và sản lượng đậu tương lớn nhất trên thế giới, năm 2009 diện tích đậu tương của Mỹ là 30,9 triệu ha chiếm 31,2 % diện tích đậu tương của toàn thế giới, sản lượng là 91,4 triệu tấn. Đứng thứ hai sau Mỹ là Braxin diện tích năm 2009 là 21,7 triệu ha sản lượng 56,9 triệu tấn, đứng thứ 3 là Achentina diện tích 16,7 triệu ha, sản lượng 30,9 triệu tấn, đứng thứ 4 là Ấn Độ (9,6 triệu ha) và đứng thứ 5 là Trung Quốc ( 9,1 triệu ha). Năm 2007 Ấn Độ vượt qua Trung Quốc để trở 6 n thành quốc gia có diện tích trồng đậu tương đứng thứ 4 trên thế giới.
Diện tích trồng đậu tương của 5 quốc gia này chiếm 89,4 % diện tích trồng đậu tương của toàn thế giới (FAO, 2010 )[21]. Braxinvà Mỹ là hai nước có năng suất đậu tương cao nhất thế giới, năm 2009 năng suất đậu tượng của hai quốc gia này là 26,2 tạ/ha và 29,5 tạ/ha, đứng thứ 3 thế là Achentina, năm 2009 năng suất đậu tương là 18,4 tạ/ha. Ấn Độ là nước có diện tích trồng đậu tương lớn hơn Trung Quốc, tuy nhiên năng suất đậu tương của Ấn Độ đạt thấp năm, 2009 năng suất chỉ là 10,6 tạ/ha, do đó sản lượng đậu tương của Ấn Độ đứng thứ 5 trên thế giới sau Trung Quốc. Mỹ là quốc gia xuất khẩu đậu tương hàng đầu thế giới, năm 2007 Mỹ xuất khẩu 29,84 triệu tấn, đứng thứ 2 Braxiln năm 23,73 triệu tấn, đứng thứ 3 là Achentina 11,84 triệu tấn.
Ba quốc gia Nam Mỹ này xuất 65,41 triệu tấn chiếm 87,91 % lượng đậu tương xuất khẩu thế thới (FAO, 2009) [21]. Mặc dù Trung Quốc là nước có diện tích trồng đầu tương lớn trên thế giới nhưng vẫn là quốc gia nhập khẩu đậu tương lớn nhất thế giới năm, 2007 Trung Quốc nhập khẩu 33,15 triệu tấn đậu tương, Hà Lan nhập khẩu 4,19 triệu tấn, Nhật Bản nhập khẩu 4,16 triệu tấn. Tình hình xản suất đậu tương của Việt Nam Ở Việt Nam cây đậu tương phát hiện từ rất sớm, được nhân dân trồng và sử dụng cách đây hàng nghìn năm, tuy nhiên đến nay diện tích trồng đậu tương ở nước ta còn hạn chế chỉ bó hẹp trong phạm vi nhỏ. Trước cánh mạng tháng 8 năm 1945, diện tích đậu tương của cả nước 32.200 ha, năng suất thấp 4,1 tạ/ha.
Sau khi đất nước thống nhất diện tích đậu tương cả nước tăng lên 39.954 ha năng suất 5,2 tạ/ha (Ngô Thế Dân và Cs)[13]. Cả nước đã hình thành 6 vùng sản xuất đậu tương. Năm 1993, vùng Đông Nam Bộ có diện tích lớn nhất (26,2%) diện tích đậu tương của cả nước, 7 n miền núi Bắc Bộ chiếm 24,7% diện tích, đồng bằng sông Hồng chiếm 17,5% diện tích, đồng bằng sông Cửu Long chiếm 12,4%. Còn lại là Đồng bằng ven biển và Tây Nguyên.
Trong đó đậu tương trồng vụ xuân chiếm 14,2% diện tích, vụ hè thu là 31,3%, vụ mùa là 2,68%, vụ thu đông 22,1%, vụ đông xuân là 29,7%. Ở vùng núi Bắc bộ, khu 4 cũ, Đồng bằng sông Cửu Long vụ đông xuân là chính vụ (59,8 – 83,5%), ở Đồng bằng Sông Hồng, trung du Bắc bộ vụ xuân (60,6 – 65,6%), ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ vụ hè thu và thu đông (60 – 77%). Về sản lượng, 3 vùng Đồng bằng Sông Hồng, Đồng bằng Sông Cửu Long, Đông Nam Bộ chiếm 63,8% sản lượng đậu tương của cả nước. Đặc biệt Đồng Bằng Sông Cửu Long chỉ chiếm 12,7% diện tích nhưng lại chiếm 20,7% sản lượng đậu tương của cả nước, năng suất bình quan cao nhất 16 tạ/ha.
Tại Đại hội Đảng lần thứ V, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nêu “đậu tương cần phát triển mạnh mẽ để tăng nguồn đạm cho con người, cho gia súc, cho đất đai và trở thành một loại hàng hoá xuất khẩu chủ lực ngày càng quan trọng” Bảng 1. Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam từ năm 2005 - 2009 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 2005 204,1 14,3 292,7 2006 185,6 13,9 258,2 2007 187,4 14,7 260,5 2008 191,5 14,0 268,1 2009 146,2 14,6 213,6 (Nguồn: FAO, 2010) [21] 8 n Bảng 1.3 cho thấy diện tích trồng đậu tương của nước ta có sự biến động qua các năm, diện tích đậu tương năm 2005 là 204,1 nghìn ha, năm 2006 diện tích giảm xuống còn 185,6 nghìn ha, đến năm 2008 diện tích tăng lên 191,5 nghìn ha, đến nay diện tích đậu tương cả nước chỉ còn 146,2 nghìn ha. So với các nước có diện tích trồng đậu lớn trên thế giới thì diện tích trồng đậu tương của nước ta còn rất nhỏ. Diện tích gieo trồng đậu tương năm cao nhất là năm 2004 mới chỉ đạt 204,1 nghìn ha.
Năng suất đậu tương của nước ta trong 5 năm qua đã được cải thiện, tuy nhiên vẫn còn thấp hơn nhiều so với năng suất trung bình của thế giới, năm 2007 đạt năng suất cao nhất mới chỉ đạt 14,7tạ/ha, trong khi năng suất bình quân trên thế giới là 23,8 tạ/ha. Theo Lê Quốc Hưng, 2007 [24] nước ta có tiềm năng rất lớn để mở rộng diện tích trồng đậu tương cả 3 vụ xuân, hè và đông, diện tích có thể đạt 1,5 triệu ha trong đó phân bố ở các vùng: Vùng Đồng bằng sông Hồng có thể mở rộng diện tích lên tới 600 nghìn ha đậu tương trên đất 2 vụ lúa, miền núi phía Bắc 400 nghìn ha trên các loại đất dốc, Bắc Trung bộ 300 nghìn ha và Tây Nguyên 100 nghìn ha. Quỹ đất đang có này là một lợi thế không nhỏ để nước ta phát triển sản xuất đậu tương đảm bảo nhu cầu sử dụng đậu tương trong nước. Các yêu cầu sinh thái của cây đậu tương 1.
Yêu cầu nhiệt dộ Cây đậu tương có nguồn gốc ôn đới nhưng không phải là cây chịu được rét. Tổng tích ôn của cây đậu tương biến động trong khoảng 1700-27000C. Đậu tương có thể sinh trưởng trong phạm vi nhiệt độ từ 10 - 400C. Phạm Văn Thiều [32] cho rằng nhiệt độ tối thích cho thời kỳ nảy mầm là từ 18-260C (6-7 ngày đã mọc mầm) nếu ở nhiệt độ từ 10-120C muốn mọc mầm phải cần từ 15- 16 ngày, ngược lại nhiệt độ cao hơn 400C hạt cũng không mọc mầm được.
Thời kỳ cây con, từ khi cây ra lá đơn đến khi cây được 3 lá thật cây đậu tương 9 n có khả năng chịu rét tốt. Thời kỳ còn lá đơn có thể chịu nhiệt độ dưới 00C trong thời gian ngắn. Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng là từ 22-270C, nhiệt độ dưới 170C sẽ trở ngại cho sự sinh trưởng thân lá. Thời kỳ ra hoa kết quả cây cần nhiệt độ từ 28-370C, nếu gặp nhiệt độ thấp ảnh hưởng xấu cho việc ra hoa, kết quả.
Nhiệt độ lên trên 380C thì ảnh hưởng xấu đến tốc độ hình thành đốt, phát triển lóng, phân hoá hoa cũng như vận chuyển các chất dinh dưỡng về hạt làm cho chất lượng của hạt kém. Nhiệt độ bình quân trong một ngày có lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của đậu tương là từ 18-200C. Yêu cầu về ánh sáng Đậu tương là loại cây ngắn ngày điển hình, nên ánh sáng là yếu tố ảnh hưởng mạnh đến cây này. Với cây đậu tương thì ánh sáng không chỉ là yếu tố quyết định sự quang hợp mà còn ảnh hưởng đến hoạt động cố định đạm của các nốt sần nên ảnh hưởng đến năng suất (Phạm Văn Thiều, 2006) [32].
Trần Đình Long và Cs [13] cho biết ở Việt Nam cả giống chín sớm, chín trung bình và chín muộn đều phản ứng với chu kỳ chiếu sáng, sự biến động của chu kỳ chiếu sáng có ảnh hưởng tới sinh trưởng sinh thực cả trước và sau hoa nở. Sự tác động ngày ngắn mạnh nhất là vào giai đoạn trước khi cây ra hoa, lúc này ánh sáng ngày ngắn sẽ làm cho cây rút ngắn thời gian sinh trưởng, giảm chiều cao cây, số đốt cũng như độ dài của lóng. Cường độ ánh sáng mạnh sẽ làm cho cây sinh trưởng khoẻ, cho năng suất cao. Trong thời kỳ ra hoa và hình thành hạt, số giờ chiếu sáng thích hợp là từ 6-12 giờ, thời kỳ này nếu gặp điều kiện chiếu sáng dài ngày, thời gian chiếu sáng trên 18 giờ/ngày thì cây sẽ không ra hoa được.
Tính mẫn cảm với chu kỳ chiếu sáng của cây đậu tương tuỳ thuộc vào đặc tính của giống. Các giống thuộc nhóm chín sớm thường mẫn cảm với nhiệt độ, còn các giống chín muộn lại mẫn cảm với chu kỳ chiếu sáng (Phạm Văn Thiều, 2006) [32]. Yêu cầu về nước Tuy là cây trồng cạn song đậu tương lại là cây cần nhiều nước, vì vậy nước luôn là một trong những yếu tố hạn chế chủ yếu đến sản xuất đậu tương. Trong suốt cả quá trình sinh trưởng từ khi gieo đến khi thu hoạch đậu tương cần ít nhất 300 mm.