Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học và nghiên cứu về mật độ cấy 1. Cở sở khoa học của mật độ cấy Năng suất ruộng lúa được quyết định bởi các yếu tố như: Số bông/đơn vị diện tích, số hạt chắc/bông, tỷ lệ hạt chắc và trọng lượng 1000 hạt. Quần thể ruộng lúa muốn đạt được số bông nhiều trước hết cần có số bông/m2 lớn, như vậy mỗi khóm cần có nhiều nhánh hữu hiệu, bông lúa có nhiều hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc cao.
Mật độ cấy là số cây, số khóm trên một đơn vị diện tích, với lúa cấy được tính bằng số khóm/m2. Về nguyên tắc thì mật độ cấy càng cao số bông càng nhiều. Trong một giới hạn nhất định việc tăng số bông trên một đơn vị diện tích không làm giảm số hạt trên bông, nhưng vượt quá giới hạn đó thì số hạt trên bông bắt đầu giảm. Mật độ thích hợp tạo cho cây lúa phát triển tốt tận dụng được dinh dưỡng và ánh sáng Như vậy, mối quan hệ giữa cá thế cây lúa với quần thể ruộng lúa rất chặt chẽ.
Mật độ cấy có những ảnh hưởng nhất định đến năng suất lúa. Trên một đơn vị diện tích nếu cấy mật độ càng cao có thể có số bông nhiều xong số hạt trên bông có xu hướng ít đi. Nếu cấy ở mật độ quá dày sẽ làm cho năng suất giảm nghiêm trọng. Nếu gieo quá thưa, nhất là với giống có thời gian sinh trưởng ngắn thì rất khó hoặc không thể đạt số bông tối ưu.
Vì vậy, khi các biện pháp kỹ thuật khác được duy trì thì việc lựa chọn xác định một mật độ hợp lý là một phương án tối ưu để đạt được số lượng hạt thóc nhiều nhất trên một đơn vị diện tích gieo cấy. Xác định mật độ cấy thích hợp là yêu cầu cần thiết, nó phải dựa trên cơ sở là tính di truyền của giống, điều kiện tự nhiên, dinh dưỡng và các biện pháp kỹ thuật khác. Nghiên cứu về mật độ cấy Nghiên cứu về khả năng đẻ nhánh S.Yoshida (1985) [23] đã khẳng định: Trong ruộng lúa cấy, khoảng cách thích hợp cho lúa đẻ nhánh khỏe và 5 sớm là từ 20cm x 20cm và 30cm x 30cm. Theo ông, việc đẻ nhánh chỉ xảy ra đến mật độ 300 khóm/m2, nếu tăng số dảnh cấy lên nữa thì chỉ có những dảnh chính cho bông.
Năng suất hạt tăng lên khi mật độ cấy tăng đến 182 - 242 dảnh/m2. Số bông trên đơn vị diện tích tăng lên theo mật độ nhưng lại giảm số hạt trên bông. Mật độ cấy thực tế là mối tương quan giữa số dảnh cấy và sự đẻ nhánh. Thông thường gieo cấy thưa thì lúa đẻ nhánh nhiều, cấy dày thì lúa đẻ nhánh ít.
Qua thực tế nhiều năm làm thí nghiệm ở các giống lúa khác nhau, Yoshida (1985) [23] cho rằng: giống IR8 (giống đẻ nhánh khỏe) năng suất đạt cực đại ở khoảng cách cấy là 20cm x 20cm. Theo Nguyễn Thị Trâm (2000) [26], mật độ cấy càng cao số bông càng nhiều, tuy nhiên cấy càng thưa đối với giống ngắn ngày thì khó đạt được số bông trên một đơn vị diện tích theo dự định, các giống lai có thời gian sinh trưởng trung bình có thể cấy thưa, ví dụ như Bắc ưu 64 có thể cấy 35 khóm/m2. Các giống có thời gian sinh trưởng ngắn như Bồi tạp sơn thanh, bồi tạp 77 cần cấy dày 40 – 45 khóm/m2. Nhiều kết quả nghiên cứu đã xác nhận rằng trên đất giàu dinh dưỡng, mạ tốt thì cần cấy mật độ thưa, nếu mạ xấu, đất xấu thì nên cấy dày.
Để xác định mật độ cấy hợp lý thì có thể căn cứ vào hai thông số đó là số bông cần đạt/m2 và số bông hữu hiệu/khóm. Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng đạm đến sinh trưởng của lúa ngắn ngày thâm canh, Nguyễn Như Hà (1999) [12] kết luận: Tăng mật độ cấy làm cho việc đẻ nhánh của một khóm giảm. So sánh số dảnh /khóm của mật độ cấy 45 khóm/m2 và mật độ cấy dày 85 khóm/m2 thì số dảnh đẻ trong một khóm lúa ở công thức cấy thưa lớn hơn 0,9 dảnh (tương đương 14,8 %) ở vụ Xuân, còn ở vụ Mùa lớn hơn 1,9 dảnh/ khóm (tương 25%). Về dinh dưỡng đạm của lúa tác động đến mật độ cấy tác giả kết luận: Tăng bón đạm ở mật độ cấy dày có tác dụng 6 tăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu.
Tỷ lệ dảnh hữu hiệu tăng tỷ lệ thuận với mật độ cho đến 65 khóm/m2 ở vụ Mùa và 75 khóm/m2 ở vụ Xuân. Tăng bón đạm ở mật độ cao khoảng 55 - 65 khóm/m2 làm tăng số dảnh hữu hiệu. Nguyễn Thạch Cương (2000) [7] đã làm thí nghiệm với tổ hợp Bồi Tạp Sơn Thanh trên đất phù sa sông Hồng đã kết luận: Trong vụ Xuân, với mật độ cấy 55 khóm/m2 trên đất phù sa sông Hồng cho năng suất cao nhất là 82,2 tạ/ha. Trên đất phù sa ven biến cho năng suất 83,5 tạ/ha , ở đất bạc màu ven đồng bằng mật độ 50 – 60 khóm/m2 cho năng suất 77,9 tạ/ha.
Trong vụ Mùa với mật độ 50 khóm/m2 trên đất phù sa sông Hồng cho năng suất cao nhất là 74,5 tạ/ha, trên đất phù sa ven biển cho năng suất 74 tạ/ha. Mật độ 55 khóm/m2 trên đất bạc màu cho năng suất 71,4 tạ/ha. Nguyễn Văn Luật (2008) [21] nhận xét phương pháp cổ truyền trước đây so với ngày nay: Trước năm 1967, người dân trồng lúa thường cấy thưa với mật độ cấy 40 cm x 40 cm hoặc 70cm x 70cm ở một vài ruộng sâu, còn ngày nay có xu hướng cấy dày 20 cm x 20 cm, 20 cm x 25 cm, 15 cm x 20 cm, 15 cm x 10 cm. Theo kết quả nghiên cứu của Mai Thị Ảnh (2003) [1] tại Chiêm Hóa - Tuyên Quang thì giống lúa tạp giao 1 cho năng suất và hiệu quả cao nhất khi cấy với phương thức cải tiến hàng rộng hàng hẹp (30 + 15) cm x 12 cm ứng với 33 khóm/m2, 4 dảnh/khóm (132 dảnh /m2) Benito.
Vergana (1990) [4] nghiên cứu về khoảng cách cấy có ảnh hưởng đến sự đẻ nhánh, khi cấy với khoảng cách 50 cm x 50 cm thì số nhánh đạt được trên 1 m2 là 122 nhánh, với khoảng cách 10 x 10 cm thì số nhánh đạt được là 300 nhánh, từ đó ông rút ra kết luận: + Khả năng đẻ nhánh có thể đạt được bằng cách cấy thưa trên đất giàu dinh dưỡng, nhưng trong thực tế sản xuất không thể đạt được số dảnh tối đa. + Số dảnh trên 1 cây tăng cùng với việc tăng khoảng cách giữa các cây. + Số nhánh có thể giảm do cấy quá thưa. 7 Mỗi giống khác nhau thích hợp với mật độ khác nhau, giống thấp cây khi cấy dầy cho năng suất tăng rõ rệt và giống cao cây thì ngược lại.
Vấn đề giữa mật độ và năng suất có nhiều tác giả ngoài nước nghiên cứu và đề cập, các tác giả đều có quan điểm chung đó là việc tăng mật độ ở một giới hạn nhất định thì năng suất tăng nhưng vượt qua giới hạn đó năng suất sẽ không tăng mà giảm đi. Theo Bùi Huy Đáp (1978) [10], cấy ít dảnh cho mỗi khóm từ 2-3 dảnh/khóm thì lúa sẽ đẻ nhánh tốt hơn, có nhiều bông bằng cổ hơn và năng suất cũng cao hơn. Nếu cấy 3-4 dảnh/khóm trong những điều kiện bình thường thì nên cấy mật độ 25-30 khóm/m2, ruộng sâu và trong vụ mùa nên cấy trên 40 khóm/m2, còn ruộng tốt bón nhiều phân nên cấy 1-2 dảnh/khóm. Hệ thống canh tác lúa cải tiến (System of Rice intensification - SRI) đã được đánh giá và áp dụng có hiệu quả trên những vùng đất chủ động nước tưới tại hơn 40 nước trên thế giới và 29 tỉnh của Việt Nam.
Một trong 5 nguyên tắc cơ bản của SRI thì nguyên tắc cấy thưa cấy 1-2 dảnh /khóm, với mục đích tăng khả năng đẻ nhánh tối đa giảm sâu bệnh. làm tăng khả năng tích luỹ chất khô/khóm, tăng hệ số kinh tế, năng suất lúa tăng 25-35%, góp phần tăng sản lượng lúa ở vùng đất khó khăn này và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu (Phạm Thị Thu, Hoàng Văn Phụ, 2014) [25]. Quần thể ruộng bao gồm tất cả các khóm lúa đã được gieo cấy ở ruộng đó từ khi gieo cấy đến khi thu hoạch. Mỗi khóm lúa trong quá trình phát triển đã ảnh hưởng đến các khóm khác.
Đồng thời nó cũng chịu ảnh hưởng của sự phát triển của các khóm lúa khác. Nói cách khác cá thể và quần thể có mối ảnh hưởng qua lại chặt chẽ, chi phối sự sinh trưởng và phát triển của cả ruộng lúa trong suốt quá trình cây lúa sinh trưởng ở ngoài ruộng cho đến lúc chín. Mục đích chính của việc trồng lúa không phải là có một số khóm lúa tốt mà là để đạt năng suất lúa cao, nghĩa là năng suất của cả ruộng lúa cao (Bùi Huy Đáp,1980) [11]. 8 Mật độ là số cây, số khóm được cấy trên một đơn vị diện tích, với lúa cấy thì mật độ được đo bằng đơn vị khóm/m2.
Trên một đơn vị diện tích nếu mật độ càng cao thì số bông càng nhiều, song số hạt trên bông càng ít, bông lúa bé, tốc độ giảm số hạt/bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ. Vì thế cấy dầy quá sẽ làm cho năng suất giảm nghiêm trọng. Tuy nhiên nếu cấy với mật độ quá thưa đối với các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn thì rất khó hoặc không thể đạt được số bông tối ưu. Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học với các giống lúa khác nhau đều khẳng định: khi các khâu kỹ thuật khác được duy trì thì chọn một mật độ vừa phải là phương án tối ưu để đạt được số lượng hạt thóc nhiều nhất trên đơn vị diện tích gieo cấy (Nguyễn Văn Hoan, 2003) [16].
Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thuật quan trọng, nó phụ thuộc vào đặc điểm của giống, điều kiện đất đai, nước tưới, dinh dưỡng, trình độ thâm canh của người dân…Giống lúa cho nhiều bông thì cấy dầy không có lợi bằng giống to bông, vùng lạnh nên cấy dầy hơn vùng nóng ẩm, mạ dảnh to nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy dầy hơn lúa gieo sớm (Nguyễn Thị Lẫm và cs, 2003) [19]. Đối với nhóm lúa thường gieo mạ thâm canh hoặc gieo mạ cải tiến thì nên cấy mạ non. Bố trí cấy với mật độ thưa hơn so với cách gieo mạ truyền thống. Mạ non cấy 3-4 dảnh/khóm, 30-35 khóm/m2 để sau thời kỳ đẻ nhánh có số nhánh tương đương như loại mạ thâm canh, khoảng cách 25x12 cm thường được ưa chuộng (Nguyễn Văn Hoan, 2003) [16].