ĐẶT VẤN ĐỀ Cây sắn (Manihot esculenta Cranta) là một trong những cây lƣơng thực dễ trồng, có khả năng thích ứng rộng, trồng đƣợc trên những vùng đất nghèo nàn không yêu cầu về điều kiện sinh thái, phân bón, chăm sóc nhiều. Sắn đƣợc trồng rộng rãi khắp các tỉnh ở Việt Nam và hầu hết các nƣớc trên thế giới, đặc biệt là các nƣớc đang phát triển. Tổ chức nông nghiệp thế giới (FAO) đã xếp sắn là cây lƣơng thực quan trọng chính ở các nƣớc đang phát triển, sắn chỉ đứng sau lúa, ngô, lúa mì. Ở Việt Nam, sắn là cây lƣơng thực và cây xuất khẩu quan trọng chỉ sau lúa và ngô.
Tạo đầu ra cho nông sản tăng thu nhập cho ngƣời dân các dân tộc và góp phần xóa đói giảm nghèo cho các vùng nông thôn nghèo nhƣ vùng sâu vùng xa. Tạo thêm công ăn việc làm cho ngƣời lao động. Năm 2013 diện tích sắn cả nƣớc là 560 nghìn ha, năng suất bình quân 17,6 tấn/ha, với tổng sản lƣợng đạt gần 9,4 triệu tấn. Hiện tính đến năm 2013 cả nƣớc có 6 nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học sử dụng nhiên liệu là sắn lát khô để sản xuất, gần 100 nhà máy chế biến tinh bột sắn và hàng cơ sở chế biến thủ công (Bộ công thƣơng Việt Nam, ngày 03/03/2014) [2].
Để phục vụ cho chiến lƣợc phát triển sắn bền vững ở Việt Nam, việc nghiên cứu áp dụng các biện pháp kỹ thuật có ý nghĩa quan trọng. Trong các yếu tố làm tăng năng suất cây trồng thì phân bón là một trong những yếu tố làm tăng năng suất tới 30,7%, thời tiết thuận lợi 15%, sử dụng giống lai 8%, tƣới tiêu 5%, các biện pháp kỹ thuật khác từ 11-18 % (Berzenyi Z. Tuy nhiên việc sử dụng các loại phân nhƣ NPK đơn lẻ hoặc kết hợp là tùy thuộc vào tình trạng dinh dƣỡng ban đầu của đất, điều kiện sinh thái của n 2 vùng cũng nhƣ các loại phân và phƣơng pháp bón phân (Howeler (1987) [21]. Việc sử dụng các loại phân để bón vãi thông thƣờng gây ra những tác động tiêu cực không chỉ làm giảm hiệu quả sử dụng phân bón mà còn làm ảnh hƣởng đến môi trƣờng đất, nƣớc, không khí.
Bón phân vãi và bón các loại phân nhanh tan cây sắn không sử dụng đƣợc hết lƣợng phân đó, do một phần thấm vào đất, một phần bị rửa trôi xuống sông suối, ao hồ làm ô nhiễm nƣớc nghiêm trọng. Việc sử dụng phân viên nén đƣợc khẳng định là khắc phục đƣợc tình trạng rửa trôi, bay hơi, liên kết với đất chặt hơn so với bón vãi thông thƣờng. Dùng phân viên nén tiết kiệm đƣợc 35-40% lƣợng phân so với bón vãi, làm tăng 15-19% năng suất ở lúa, ít sâu bệnh do ruộng thông thoáng (Nguyễn Tất Cảnh, 2005) [5]; Thí nghiệm bón phân viên nén cho ngô đã đƣợc tiến hành năm 2006, 2007 tại Quảng Uyên, Cao Bằng; năm 2008 tại Sơn La đã làm tăng năng suất 12-20% (Nguyễn Tất Cảnh, 2008) [5] tiết kiệm đƣợc 20-30% chi phí bón phân do chỉ phải bón một lần trong cả vụ (Đỗ Hữu Quyết, 2008) [16]; Tiềm năng sử dụng phân viên ném, phân chậm tan sẽ rất lớn, đặc biệt là ở những nơi có nguy cơ bị mất đạm cao nhƣ đất dốc và đối với những cây trồng có bộ rễ ít nhƣ cây sắn. Tuy nhiên việc nghiên cứu sử dụng phân viên nén trong sản xuất sắn trên đất dốc vẫn chƣa đƣợc quan tâm.
Xuất phát từ cơ sở khoa học và thực tiễn nhƣ trên chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân viên nén đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng giống sắn KM94 trên đất dốc tại huyện Văn Yên, Tỉnh Yên Bái”. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI Xác định công thức phân viên nén thích hợp cho hiệu quả kinh tế cao đối với giống sắn KM94 trên đất dốc tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI Nghiên cứu ảnh hƣởng của phân viên nén đến quá trình sinh trƣởng giống sắn KM94 Nghiên cứu ảnh hƣởng của phân viên nén đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống sắn KM94 Nghiên cứu ảnh hƣởng của phân viên nén đến chất lƣợng giống sắn KM94 Đánh giá hiệu quả sử dụng phân nén 1. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Giúp sinh viên nâng cao chuyên môn và nâng cao tay nghề, đồng thời rèn luyện thái độ làm việc nghiêm túc. Tích lũy kinh nghiệm, có phƣơng pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất trên cơ sở học đi đôi với hành. Giúp bổ sung thêm giữ liệu khoa học về hiệu quả sử dụng phân viên nén cho cây sắn trên đất dốc tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học xác định đƣợc lƣợng phân viên nén thích hợp cho cây sắn đạt năng suất cao trên đất dốc cho tỉnh Yên Bái nói riêng và các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung.
Kết quả của đề tài cũng sẽ là cơ sở để cho các nghiên cứu phân viên nén cho cây sắn tiếp theo cho các tỉnh miền núi khác ở Việt Nam. Ý nghĩa đối với sản xuất Là cơ sở để khuyến cáo và xác định kỹ thuật, lƣợng phân phù hợp với điều kiện sinh thái, sự sinh trƣởng phát triển của cây sắn ở tỉnh Yên Bái và các tỉnh lân cận. Nhằm giúp nông dân giảm chi phí đầu vào, nâng cao năng suất chất lƣợng sắn, giúp tăng thu nhập cho các hộ nông dân và góp phần bảo vệ đất trồng sắn trên đất dốc đƣợc lâu dài và bền vững n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI Đất dốc ngày càng có vai trò quan trọng vì dân số càng ngày càng tăng, diện tích đất đồng bằng và trung du ngày càng thu hẹp.
Đất dốc ngày càng bị thoái hóa nghiêm trọng do việc canh tác chƣa hợp lý. Các biện pháp canh tác bền vững trên đất dốc chƣa thực sự khả thi. Năng suất cây trồng bị ảnh hƣởng bởi nhiều yếu tố trong đó yếu tố quan trọng nhất là phân bón. Theo đánh giá của các nhà khoa học Mỹ trong hệ thống các biện pháp tăng năng suất cây trồng, phân bón chiếm tỷ trọng 41%, thuốc bảo vệ thực vật chiếm tỷ trọng 13 - 20%, thời tiết thuận lợi 15%, sử dụng hạt giống lai 8%, tƣới tiêu 5% và các biện pháp kỹ thuật khác 11 - 18%.
Ở Đức, các chuyên gia đánh giá tỷ trọng của phân bón trong việc tăng năng suất cây trồng là 50% và ở Pháp là 50 - 70%. Ở Việt Nam, theo số liệu của Viện Thổ nhƣỡng Nông hóa về tình hình sử dụng phân bón ở nƣớc ta trong vòng 20 năm trở lại đây, tỷ trọng này là 40 - 50%. Với tỷ trọng này thì các loại cây trồng theo đánh giá của bà con nông dân đã cho năng suất cao. Các kết quả của phân viên dúi sâu đã đƣợc chứng minh trên cây lúa, cây ngô, sắn cũng là những cây lƣơng thực quan trọng, cần đƣợc quan tâm và tăng năng suất để sao cho ngày càng đem lại hiệu quả kinh tế cho ngƣời nông dân, góp phần vào việc xoá đói giảm nghèo.
Các kết quả nghiên cứu ở nƣớc ngoài cho thấy có thể sử dụng phân viên chậm tan để giảm lƣợng phân bón và tăng năng suất ngô. Tuy nhiên, những loại phân chậm tan của nƣớc ngoài thƣờng có giá thành cao do sử dụng các chất hoá học (lƣu huỳnh) và khi bón nhiều vào trong đất có thể gây ảnh hƣởng đến môi trƣờng (phân bọc polymer). Ngoài ra hiệu quả sử dụng còn phụ thuộc nhiều vào môi trƣờng bên n 5 ngoài nhƣ độ ẩm đất. Mặt khác chi phí vận chuyển lớn dẫn tới giá thành sản phẩm cao.
Hơn nữa do tính đa dạng về loại đất nên các loại phân trên khó đáp ứng đƣợc nhu cầu dinh dƣỡng cả về lƣợng và tỷ lệ cho cây trồng. Để khắc phục những trở ngại trên Trƣờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội (nay là Học Viện Nông nghiệp Việt Nam) đã nghiên cứu và sản xuất loại phân viên nén có chứa các chất điều tiết việc giải phóng các chất dinh dƣỡng trong phân bằng nguyên liệu sẵn có trong nƣớc và có thể sản xuất ngay tại địa phƣơng. Điểm khác biệt của phân viên nén đƣợc sản xuất bởi Học Viện Nông nghiệp Việt Nam với các loại phân chậm tan trên thế giới là ở chỗ Đạm không phải đƣợc bọc lại và đạm đƣợc kết hợp với các chất phụ gia cho vào trong viên phân để tạo thành các hợp chất đạm chậm tan hơn, đạm và các chất dinh dƣỡng đƣợc bọc lại trong những “viên phân” nhỏ hơn trong một viên phân lớn. Để cho viên phân khi bón vào đất nhanh chóng hút nƣớc hoà tan, phân hoá học đƣợc trộn với một lƣợng nhỏ các chất hữu cơ.
Trong điều kiện đất cây trồng cạn có nhiều khe hở, phân có thể bị mất đi dƣới dạng bay hơi, để khắc phục tình trạng này sau khi bón phân viên nén trên đất dốc trồng ngô, sắn đƣợc che phủ bởi nilông tự huỷ hoặc có thể dùng thảm tàn dƣ cây trồng, về sau có thể sử dụng các nguyên liệu hữu cơ địa phƣơng (thân lá ngô, rơm rạ, cỏ. Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Đất đai rất đa dạng về chủng loại, trong đó đất nông nghiệp chiếm 79,59% tổng diện tích tự nhiên, nhƣng phần lớn diện tích là đất dốc. Độ dốc trung bình từ 25 - 300, có nơi độ dốc trên 450.
Năm 2012, diện tích trồng ngô của tỉnh Yên Bái là 24,7 nghìn ha, năng suất 30,6 tạ/ha, sản lƣợng 75,5 nghìn tấn; diện tích trồng sắn là 16,2 nghìn ha, sản lƣợng 305,3 nghìn tấn (Tổng cục thống kê, 2014) [18]. Nhƣ vậy, một trong những nguyên nhân làm cho năng suất thấp là do sản xuất trên đất dốc với kỹ thuật canh tác truyền thống, chƣa sử dụng phân bón đúng quy trình. Ở đất đồi núi, ngƣời dân chƣa chú trọng đầu tƣ bón phân cho sắn, nếu bón cũng chỉ ở mức bón còn rất thấp, tỷ lệ NPK vẫn còn mất cân đối (tỷ lệ n 6 kali còn rất thấp so với tỷ lệ đạm, lân). Do trình độ dân trí còn thấp, tập quán canh tác lạc hậu và tâm lý ƣa chuộng phân đạm, NPK của nông dân dẫn đến sự mất cân đối dinh dƣỡng trong đất, làm giảm hiệu quả dụng phân bón.
Giải pháp hiệu quả cho việc bón phân trên đất dốc là cần sử dụng phân hỗn hợp NPK có hàm lƣợng nguyên tố dinh dƣỡng cao để giảm phí vận chuyển và công lao động.