Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Tên gọi, phân loại, mô tả hình thái, giải phẫu và vật hậu - Tên gọi, phân loại: Cây Mắc khén là một trong tổng số 250 loài thuộc chi Zanthoxylum, thuộc họ Cam (Rutaceae), các loài trong chi này có tên chung bắt nguồn từ Hy Lạp là Xanthos, có nghĩa là màu vàng; xylon có nghĩa là gỗ (www. Hệ thống phân loại Takhtajan đã phân chi Zanthoxylum thuộc phân họ Rutoideae, bộ Zanthoxyleae (Singh, HB, 2004) [76].
Mạng lưới thông tin về tế bào thực vật đặt chi này trong họ Toddalioideae. Tên tiếng Anh gọi cây Mắc khén là Indian ivy-rue; Khên 1, Khouang (tên Lào); Kamchat ton, Luuk ra maat, Ma khuang (tên Thái Lan); Hantu duri (tên Malaixia); Kayetana, Salai, Kasabang (tên Philippin); Kayu lemanh, Kayu tân, Ki tanah (tên Inđônêxia); Kathit-pyu (tên Mianma); Bazinali, Tessul, Badrang, BroJonali, Jummina, Kuyitti, Tikta, Rachamam, Iratchai (tên Ấn Độ) (dẫn theo Lã Đình Mỡi và cộng sự, 2001, 2002 ) [44], (http://www. - Hình thái, giải phẫu và vật hậu: Cây Mắc khén được một số tác giả trên thế giới mô tả về hình thái bên ngoài và cấu tạo giải phẫu bên trong. Đây là cơ sở khoa học cho việc định loại và phân biệt Mắc khén với những loài cây khác, đặc biệt những loài trong chi của nó.
Mắc khén là loài cây đơn tính khác gốc, rụng lá, gỗ trung bình hoặc lớn, cây có thể cao đến 35m, trên thân và cành có phủ nhiều gai ngắn, đáy rộng, cong, nhọn, thẳng. Lá mọc cách, kép lông chim một lần chẵn hoặc lẻ, dài 30 - 40cm; có từ 10 - 17 lá chét mọc đối hoặc gần như đối; lá chét có dạng hình trứng hay hình trái xoan, kích thước (7 - 13 x 3 - 5)cm; mép lá nguyên hoặc khía răng cưa nhỏ. Cụm hoa dạng chùy, mọc ở đầu cành hay ở nách lá, dài 8 - 14cm. Hoa nhỏ, chỉ dài chừng 2,5mm, mẫu 4, lá đài 4, cánh tràng 4, màu trắng hay vàng nhạt.
Hoa đực có 4 nhị với 1 lá noãn thoái 6 hóa. Hoa cái với bầu có 1 lá noãn. Quả nang hình cầu, đường kính chừng 6 - 7mm, đơn độc (dẫn theo Lã Đình Mỡi và cộng sự, 2001, 2002 ) [44]. Mắc khén là cây gỗ trung bình, rụng lá, vỏ cây có tinh dầu thơm, khi cây còn non trên thân có nhiều gai hình nón bao phủ, lá kép lông chim một lần chẵn hoặc lẻ, các lá chét phân bố hơi dày ở phần cuối của lá kép, chiều dài lá kép từ 30 - 75cm, có từ 5 - 20 cặp lá chét, lá chét hình trứng có kích thước (7 - 15 x 3 - 5)cm; hoa nhỏ xuất hiện cùng với lá mới, màu vàng xanh; trái cây nhỏ hình cầu, có đường kính 5mm, màu vàng cam khi chín (http://dhaarrii.com/2009/09/zanthoxylum- rhetsa-roxb-dc.html) [86], (http://www.info/plants/zanthoxylum-rhetsa.
Tại Lào, cây Mắc khén được mô tả là cây rụng lá, cao đến 18m; khi nhỏ vỏ cây có màu xanh, lá cây có nhiều gai bao phủ, khi cây trưởng thành vỏ có màu xám, các cành cây đều có gai; lá kép lông chim một lần lẻ, lá kép dài 30 - 40cm, có 5 - 23 lá chét; lá chét hình trứng, kích thước (5 - 22 x 2 - 7)cm; hoa mọc chùm bao gồm nhiều hoa, có màu trắng; chùm quả có đến 100 quả, khi chín hạt màu đen có đường kính 5mm. Theo Lutz Lehmann (1987) [73], (http://www.la/lao- tfpwiki/index.php/Mak_khaen_/Zanthoxylum_rhetsa) [95], cây Mắc khén ra hoa vào tháng 10, quả chín vào tháng 12 đến tháng giêng năm sau. Về giải phẫu, Cutter, EG (1969) [67] đã mô tả như sau: i) Thịt có màu trắng nhạt, có nhựa và chứa chất berberine; (ii) Vòng sinh trưởng không rõ ràng hoặc không có, màu sắc của giác và lõi gỗ không phân biệt, thường là màu vàng nhạt, có sợi gỗ. Gỗ mềm, có mùi thơm đặc trưng, khối lượng riêng từ 0,35 - 0,62 g/cm3; (iii) Quản bào liên tục, sợi gỗ không có vách ngăn, độ dày trung bình và có ranh giới rõ ràng.
Như vậy, việc phân loại cây Mắc khén bước đầu cũng đã có một số thông tin. Tuy nhiên, khi mô tả về hình thái và giải phẫu còn rất ít nghiên cứu dẫn đến thông tin chưa được đầy đủ, chưa thống nhất, do đó cần phải có những nghiên cứu tiếp theo. 7 Về vật hậu: Theo Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001, 2002) [44], tại Malaixia cây Mắc khén thường rụng lá vào tháng 3 - 4 hàng năm và ra nụ nở hoa vào ngay thời gian trước hoặc sau khi các lá non vừa nhú. Ở Java, Mắc khén ra hoa vào tháng 12 hàng năm và quả chín vào các tháng 2 - 3 năm sau, hoa thơm hấp dẫn côn trùng và thụ phấn nhờ côn trùng.
Tại miền Bắc của Thái Lan cây Mắc khén rụng lá vào tháng 12 - 1 hàng năm, sau đó ra lá non, mầm hoa, hoa nở vào tháng 6 - 7 hàng năm, quả chín và người dân thu hoạch trong mùa lạnh vào tháng 11 và tháng giêng (http://www. Các nghiên cứu này đã bước đầu cho thấy, ở những vùng phân bố khác nhau thì đặc điểm về vật hậu cũng có sự sai khác. Giá trị sử dụng Các kết quả nghiên cứu cho thấy, sản phẩm từ cây Mắc khén được sử dụng chủ yếu cho y học và làm gia vị cho một số món ăn ở địa phương. Theo Singh (2004) [76], Chadha (2008) [66], tại Ấn Độ lá, rễ, vỏ cây Mắc khén được sử dụng chống lại bệnh sốt thông thường, sốt rét, rối loạn tiêu hóa và viêm phế quản, chiết suất tinh dầu từ hạt để chữa bệnh hói đầu và nghiền bột từ vỏ cây để điều trị bệnh đau răng, lá non được ăn như một loại rau, bột được nghiền từ trái cây được sử dụng làm tăng sự hấp dẫn của một số món ăn.
Một số nghiên cứu khoa học khác cũng đã xác nhận vai trò y học của các sản phẩm từ cây Mắc khén, khi chiết suất lá làm thuốc tẩy giun (Yadav và Tanggu, 2009); vỏ cây Mắc khén khi chiết suất ra chất làm giảm bệnh đau bụng và tiêu chảy và các ứng dụng tiềm năng cho sản xuất dược phẩm để điều trị bệnh ung thư, chống đông máu (Rahman, 2002). Theo dân gian Trung Quốc thuốc sắc hay truyền tĩnh mạch của vỏ cây và hạt cây Mắc khén được sử dụng như một loại thuốc bổ thơm trong chống các bệnh sốt, khó tiêu, và dịch tả; trái cây, cũng như các cành, các gai, được sử dụng như một phương thuốc cho đau răng, cũng có thể sử dụng để chữa bệnh đầy hơi và một số bệnh thuộc về bao tử. Ở một số địa phương khác của Trung Quốc, các sản phẩm từ cây Mắc khén được sử dụng cho bệnh hen suyễn, viêm phế quản, bệnh tả, sốt, khó tiêu, đau răng, giãn tĩnh mạch và bệnh thấp khớp (http://www. 8 Tại Nêpan chiết suất vỏ, hạt cây Mắc khén tạo ra một số loại thuốc chống nhiễm trùng, thuốc an thần, viêm khớp, ngoài ra còn sử dụng trong ngành công nghiệp nước hoa và gia vị cho một số món ăn (www.
Wiersum (2000) [88], nghiên cứu kiến thức của người dân của bộ lạc Bhotiya khi lấy hạt cây Mắc khén làm gia vị cho các món ăn truyền thống như món súp, hạt cây Mắc khén sau khi phơi khô được nghiền nhỏ và được người dân địa phương rắc phủ trên bề mặt món súp. Bên cạnh đó, một số sản phẩm từ cây Mắc khén được sử dụng để chữa một số bệnh như đau răng, cảm lạnh thông thường, ho và sốt, vì nó được cho là tạo ra sự ấm áp cho cơ thể. Để chữa đau răng, trái cây tươi hoặc khô được nhấn trên các răng bị ảnh hưởng và được giữ trong vị trí đau cho đến khi nó mất vị hăng cay của nó. Chồi non của cây Mắc khén được sử dụng như bàn chải đánh răng.
Gần đây, mọi người cũng đã bắt đầu sử dụng bột làm từ trái cây Mắc khén sấy khô để làm sạch răng, còn đối với bệnh dạ dày thường gặp là điều trị bằng súp có gia vị hạt cây Mắc khén. Vỏ cây Mắc khén có mùi thơm, có thể chiết suất làm một số loại thuốc dễ tiêu hóa, chữa các bệnh tiết niệu, khó tiêu, tiêu chảy và pha với mật ong trong chữa bệnh thấp khớp. Trái cây là món khai vị, hữu ích trong bệnh tả, bệnh hen suyễn, viêm phế quản, bệnh khó thở, đau răng, làm giảm nấc cục. Các lá noãn mang lại một loại dầu thiết yếu, chữa được bệnh tả.
Dầu hạt có tính sát trùng và chất khử trùng chữa bệnh viêm da liễu. Dầu hạt được sử dụng trong bệnh chàm khô và gàu của trẻ em (http://www.info/plants/zanthoxylum-rhetsa. Tại Lào, sản phẩm chính của cây Mắc khén là quả, quả được sử dụng như một dạng hạt tiêu; dầu từ hạt được chiết suất làm loại thuốc chống viêm răng; lá có thể được sử dụng làm hoạt chất lên men của bia rượu; lá non được người dân sử dụng ăn như một loại rau, đây là món ăn ưa thích tại Lào; vỏ cây, vỏ rễ và trái cây có chứa chất kháng khuẩn cho hiệu quả cao, đặc biệt hữu ích đối với bệnh dạ dày và rối loạn đường ruột, (http://www.la/lao-tfpwiki/index.php/Mak_khaen [95]. Theo Mạng lưới thông tin về tế bào thực vật, tinh dầu được chiết suất từ cây Mắc khén được coi là có tác dụng sát trùng và chữa bệnh thổ tả.
Tại Philippin, 9 người ta dùng vỏ cây giã nát, trộn với dầu để xoa bóp ngoài chữa các vết bầm dập, các chỗ đau, nước sắc từ vỏ cây được dùng làm thuốc uống chữa đau tức ngực, đau dạ dày, vỏ cây còn được dùng làm thuốc chữa rắn cắn. Người dân Ấn Độ đã có tập quán sử dụng quả Mắc khén làm thuốc chữa bệnh ăn khó tiêu, đau dạ dày, kích thích, chữa hen suyễn, viêm phế quản, đau nhức răng, rối loạn nhịp tim và viêm khớp. Một số nơi ở đảo Java, người ta lấy quả Mắc khén non để làm gia vị thay ớt và hạt tiêu. Người Mianma lại lấy lá non phơi khô làm gia vị trong chế biến thực phẩm trong các bữa ăn hàng ngày (dẫn theo Lã Đình Mỡi và cộng sự, 2001, 2002) [44].
Ở Philippines, khi nghiền nhỏ vỏ cây Mắc khén trộn với dầu gió được sử dụng như một phương thuốc chữa đau dạ dày, vỏ cây được sắc uống chữa bệnh đau ngực, lá non được nhai nát đắp để chữa rắn cắn. Tại Ấn Độ, quả cây Mắc khén được sử dụng trong chữa bệnh hen suyễn, rối loạn tiêu hóa và viêm phế quản, khó thở, đau răng và bệnh thấp khớp; trong y học dân gian của các bộ tộc Naga ở Ấn Độ lá cây Mắc khén được sử dụng như một phương thuốc tẩy giun. Tại Mianma, lá non được sử dụng như gia vị trong một số món ăn (Van Valkenburg, J. and Bunyapraphatsara, 2001) [81], (http://scienceindex.