CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu nước ngoài 1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng Rừng tự nhiên là đối tượng có cấu trúc hết sức phức tạp. Do vậy, việc nghiên cứu các quy luật kết cấu của rừng làm cơ sở đề xuất các biện pháp lâm sinh tác động nhằm nâng cao năng suất và khả năng phục hồi của rừng rất được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm và tập trung vào một số vấn đề chính như sau: Cấu trúc tổ thành là sự tham gia của những loài cây trong lâm phần, hay nói cách khác là sự phong phú của các loài cây trong quần thụ thực vật.
Theo tác giả Richards P. Khi nghiên cứu cấu trúc tổ thành rừng tự nhiên nhiệt đới thành thục (về sinh thái), Evans, J. Trong rừng hỗn giao, nhiều loài cây gỗ lớn phân bố theo tỷ lệ khá cân bằng, tuy nhiên phần lớn trong một quần thụ thường có 1-2 loài chiếm ưu thế [42]. Laura Klappenbach cho rằng thành phân loài cây liên quan đến các loại rừng, một số khu rừng chứa đựng hàng trăm loài cây, trong khi đó một số khu rừng chỉ có một ít loài.
Rừng luôn luôn biến đổi và phát triển thông qua một chuỗi diễn thế, trong thời gian đó thành phần loài cây trong các khu rừng có sự thay đổi [47]. Theo tác giả Catinot. Nghiên cứu cơ sở lựa chọn cây trồng rừng trong Lâm nghiệp. Trước năm 1900, khi mật độ dân số thấp và diện tích rừng tự nhiên lớn không đặt ra nhu cầu trồng rừng ở quy mô lớn cho nguyên liệu công nghiệp.
Tuy nhiên, một số quốc gia đã bắt đầu quan tâm đến sự thiếu hụt rừng tự nhiên của họ và trong nửa đầu của thế kỷ 20 việc trồng rừng đã được bắt đầu ở Tây Âu, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Úc, Niu Zilân, Nam Phi và một số ít các nước đang phát triển như Ấn Độ, Chilê, Indonesia và Brazin, sau đó vào những năm 1950 là Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đã thực hiện các chương trình tái trồng rừng lớn. Những năm 1960 chứng kiến các chương trình trồng rừng lớn ở nhiều nước nhiệt đới và á nhiệt đới và từ 1965 đến 1980 diện tích rừng rồng nhiệt đới đã tăng rất mạnh. Trong thời kỳ này, tổ chức Nông lương thế giới (FAO) đóng vai trò quan trọng trong việc phổ cập các thông tin kỹ thuật và khuyến khích trồng rừng. Trong nhiều trường hợp, rừng trồng đã được thiết lập bằng vốn tài trợ nước ngoài hoặc vốn vay ưu đãi.
Phần lớn những người trồng rừng thường được hưởng lợi từ hỗ trợ trực tiếp và hầu hết nó được quản lý bởi các cơ quan nhà nước. Thiếu thông tin thị trường và các mối liên kết giữa rừng trồng và các công nghiệp tiêu thụ nguyên liệu dẫn đến rất nhiều hoạt động trồng rừng đi đến kết thúc khi các nguồn hỗ trợ không còn. Tuy nhiên, diện tích rừng trồng vẫn tiếp tục mở rộng với tốc độ nhanh. Theo đánh giá lâm c 5 nghiệp toàn cầu năm 2002 do FAO [40] thực hiện thì diện tích rừng trồng trên phạm vi toàn cầu tăng từ 17,8 triệu ha năm 1980 lên 43,6 triệu ha năm 1990 và 187 triệu ha năm 2000.
Một phần ba rừng trồng hiện nay nằm ở các nước nhiệt đới và hai phần ba ở vùng ôn đới và hàn đới. 5 nước có diện tích rừng trồng trên 10 triệu ha, chiếm 65% diện tích rừng trồng thế giới, đó là các nước: Trung Quốc, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Ấn Độ và Nhật Bản. Tuy nhiên, rất ít rừng trồng của họ được thừa nhận là cây mọc nhanh. Đánh giá của FAO ước tính tỷ lệ trồng rừng mới hàng năm trên thế giới vào khoảng 4,5 triệu ha, trong đó châu Á chiếm 79%, và Nam Mỹ chiếm 11%.
Có sự tăng trưởng của diện tích rừng trồng công nghiệp trong giai đoạn 1991- 2000, các rừng trồng công nghiệp này chủ yếu là cây gỗ mọc nhanh, như là kết quả của việc gia tăng sự tham gia của khu vực tư nhân. Các công ty đến từ Bắc Mỹ, châu Âu, Nam Mỹ, Nam Phi, Niu Zilân và Úc chủ yếu là các công ty tư nhân đầu tư trồng rừng. Trên tất cả, đánh giá tài nguyên rừng toàn cầu của FAO là nguồn thống kê đáng tin cậy nhất về tài nguyên rừng ở quy mô toàn cầu, cả rừng tự nhiên và rừng trồng. Nó đã thừa nhận ba phạm trù lớn của rừng trồng: Rừng trồng công nghiệp nhằm sản xuất gỗ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ hoặc sản xuất than công nghiệp; Rừng trồng không công nghiệp nhằm sản xuất gỗ củi cho tiêu dùng địa phương hoặc để bảo vệ đất, nguồn nước; và Rừng trồng mà mục đích và sản phẩm cuối cùng của nó chưa xác định.
Rừng trồng cây mọc nhanh là rừng trồng công nghiệp. Tuy nhiên, số liệu thống kê của FAO không phân biệt rừng cây mọc nhanh với các loại rừng công nghiệp khác. Rừng trồng cây mọc nhanh tương đối hạn chế về quy mô và bao gồm số tương đối ít các nước và các ngành công nghiệp nhưng nó có một tỷ lệ đóng góp khá chắc chắn ở khía cạnh kinh tế. Có thể điều này giúp giải thích tại sao không có tương ứng của cây mọc nhanh trong đánh giá tài nguyên rừng toàn cầu của FAO[40].
Phần lớn các thông tin về địa điểm, quy c 6 mô, chủ sở hữu, đặc trưng vật lý và tài chính của rừng trồng cây mọc nhanh chứa đựng trong các nghiên cứu thị trường, phân tích tài nguyên và nghiên cứu tiền khả thi được các công ty tư vấn tư nhân thực hiện. Trong nhiều trường hợp, các thông tin này là đáng tin cậy. Tất nhiên, chúng tôi cố gắng thiết lập một bức tranh toàn cảnh ở mức có thể về hiện trạng rừng cây mọc nhanh hiện nay và thực hiện việc này trên cơ sở tham vấn các nghiên cứu đã nói ở trên. Các nước chủ yếu Brazin, Indonesia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Phi, Thái Lan, Việt Nam, Malaixia, Venezuela là các nước quan tâm đến các loài nhiệt đới và á nhiệt đới và Trung Quốc, Chilê, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, Achentina, Uruguay, Nam Phi và Úc đối với các loài ôn đới.
Trong khi tập hợp số liệu, chúng tôi nhận thấy rằng có hai vùng màu xám rất rõ. Quan tâm đầu tiên là 11,25 triệu ha rừng trồng Bạch đàn nhiệt đới và á nhiệt đới ngoài Brazin, Trung Quốc và Nam Phi. Có bao nhiêu trong đó là cây mọc nhanh? Chỉ riêng Ấn Độ đã có 8 triệu ha rừng trồng Bạch đàn, nhưng một tỷ lệ rất lớn trong đó không thể coi là cây mọc nhanh vì đơn giản là năng suất của nó rất thấp. Vùng thứ hai là rừng trồng Bạch dương của Trung Quốc.
Trồng rừng Bạch dương không tập trung là thực tế bình thường ở Trung Quốc và chúng ta không biết có bao nhiêu trong tổng số 3,7 triệu ha rừng Bạch dương được báo cáo trong kiểm kê rừng quốc gia nước này (1998) là rừng mọc nhanh, và bao nhiêu được phân biệt không phải rừng trồng tập trung. Phần lớn các rừng trồng có năng suất thuộc loại này chiếm một diện tích gấp hai đến ba lần diện tích rừng trồng cây mọc nhanh. Chỉ riêng các bang miền nam Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã có 11,6 triệu ha rừng của 4 loài Thông thương mại: Pinus taeda, P. Niu Zilân, Chilê, Úc, Tây Ban Nha và Nam Phi đã thiết lập 4,1 triệu ha rừng Pinus radiata, và Nam Phi, Achentina, và Uruguay có khoảng 1,3 triệu ha rừng Pinus patula và P.
Rừng trồng loại này không chỉ có ở vùng ôn đới mà ngay cả ở vùng nhiệt đới c 7 và á nhiệt đới. Brazin có 400,000 ha rừng Pinus caribbean và P. ocarpa, và 16 tỉnh Trung Quốc có 8,75 triệu ha rừng trồng Cunninghamia lanceolata. Ở Brazin, Úc, Dimbabuê và Malawi rừng trồng Pinus ellittii, P.
patula chiếm khoảng 1,7 triệu ha. Các rừng trồng có chu kỳ dài này không bị các nhóm môi trường phê phán vì lý do thuần loài ở quy mô lớn. Ngược lại nó được chấp nhận như là phương thức sử dụng đất tốt hơn rừng trồng cây mọc nhanh. Sự thật là nó có lịch sử canh tác lâu hơn và thường có vai trò quan trọng đối với các nền kinh tế địa phương và bằng cách nào đó nó giải thích tại sao nó được coi là tốt hơn khi phê phán rừng trồng.
Việc mở rộng rừng trồng gỗ mềm có chu kỳ dài đã rất rõ ràng ở các nước phát triển. Đây là một nguyên nhân chính. Vì chu kỳ dài hàm chứa thời gian đầu tư dài, các nước phát triển có lợi thế cạnh tranh hơn các nước nghèo, đang phát triển. Trên khía cạnh quản trị hợp tác và giảm thiểu rủi ro, các nước phát triển vùng ôn đới có khả năng tốt hơn và hấp dẫn các nhà đầu tư hơn các nước khác ở vùng nhiệt đới.
Chu kỳ dài hơn cũng tạo tiềm năng cho việc cải thiện chất lượng và giá trị của gỗ mà nó sản xuất. Gỗ nguyên liệu giấy ở mức sàn của biểu giá. Gỗ xẻ và gỗ veneer cho lợi nhuận cao hơn nhiều, và một số người sản xuất gỗ mọc nhanh đã quan tâm quản lý rừng của họ với chu kỳ dài hơn để sản xuất gỗ lớn. Những nghiên cứu của Nilsson (1996)[41], về các vấn đề trồng rừng gỗ lớn đã chỉ ra rằng: “Liệu chúng ta có đủ rừng và sản phẩm gỗ để thỏa mãn các nhu cầu của ngành công nghiệp chế biến gỗ trong tương lai?” và ông cũng đã cảnh báo rằng: “Sự thiếu hụt nguyên liệu đầu vào của ngành công nghiệp chế biến gỗ tròn sẽ xảy ra vào năm 2010”.
Xuyên suốt thế kỷ XX, những cảnh báo tương tự đã xuất hiện ở nhiều quốc gia trong vùng châu Á - Thái Bình Dương. Những tín hiệu cảnh báo đầu tiên về sự khan hiếm gỗ nguyên liệu cho chế biến gỗ trong nước đã trở thành thực tế tại Niu Zilân trong thập kỷ 20 của thế kỷ trước. Những quan tâm về vấn đề này được lặp lại ở nhiều quốc gia ở các c 8 mức độ khác nhau, cho đến khi ngành lâm nghiệp ở hầu hết các quốc gia liên quan đã thuyết phục được chính phủ của họ dành một khoản kinh phí nhất định để đầu tư cho các chương trình trồng rừng và phát triển rừng trồng kinh tế tập trung. Ngày nay, diện tích rừng trồng công nghiệp tập trung đã chiếm tỷ lệ 16% tổng diện tích che phủ của rừng khu vực châu Á - Thái Bình Dương và đóng góp tới 61% tỷ lệ rừng trồng trên toàn thế giới (Thomas, 2004).