CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN – TRUNG QUỐC (ACFTA) 1. Bối cảnh và lịch sử hình thành: Với làn sóng toàn cầu hóa kinh tế diễn ra mạnh mẽ từ sau Chiến tranh Lạnh, các hiệp định tự do thương mại, tổ chức quốc tế - tài chính đa quốc gia cùng các khu vực mậu dịch tự do được xúc tiến theo nhiều cấp độ và quy mô khác nhau. Điển hình của các khu vực tự do mậu dịch lớn là Diễn đàn hợp tác Châu Á- Thái 3 Bình Dương (APEC), Khu vực tự do mậu dịch Bắc Mỹ (NAFTA). Bên cạnh đó, nhiều hiệp định tự do hóa thương mại song phương, đa phương khác cũng được kí kết trên toàn thế giới.
Vì vậy việc hình thành một khu vực mậu dịch tự do tại khu vực Đông Á cũng không là ngoại lệ. Việc hình thành Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc cũng là một trong những bước tiến mới trong việc hình thành một thể thống nhất Đông Á. Nhất thể hóa Đông Á đã là một mục tiêu của tổ chức khu vực ASEAN từ những ngày thành lập. Sau nhiều nỗ lực, ASEAN đã từng bước đi đến mục tiêu này qua sự thành lập AFTA (Khu vực mậu dịch tự do ASEAN), Khu vực đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA), ASEAN +1, ASEAN +3 tuy nhiên những bước đi của ASEAN vẫn có tiến độ khá chậm.
Chính vì thế là cả ASEAN và Trung Quốc đến với ACFTA với hy vọng sẽ thúc đẩy thêm tiến trình hình thành nhất thể Đông Á qua con đường mở rộng thương mại. ACFTA còn là yếu tố mới góp phần giữ gìn sự bình ổn của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói chung và ASEAN nói riêng. Sau Chiến tranh Lạnh kết thúc, hòa bình được lập lại toàn Thế giới, nhưng điều này không đồng nghĩa các 13 3 Hoàng Khắc Nam (2008), Hợp tác đa phương ASEAN+3 Vấn đề và triển vọng, Nxb. Đại học Quốc gia TP.
Hồ Chí Minh, tr47, 48, 49. mầm móng của những xung đột đã được triệt tiêu hoàn toàn. Trên thực tế, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng vẫn còn tồn tại những mối nguy hại vì vấn đề tranh chấp Biển Đông vẫn còn chưa được giải quyết thỏa đáng, bên cạnh đó ngân sách chi cho quân sự của các nước trong khu vực vẫn tăng dù Chiến tranh Lạnh kết thúc. Sự liên kết giữa các quốc gia trong khu vực đã có những thành tựu đáng kể về mặt chính trị - ngoại giao nhưng các quốc gia vẫn muốn tăng cường mối sự liên kết, mối quan hệ qua các hoạt động kinh tế.
Tình hình kinh tế chính trị của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến các nước trong khu vực mà còn tác động các khu vực khác vì khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là nơi có hoạt động thương mại sôi động, có dòng chảy tư bản đổ về mạnh mẽ. Quá trình hình thành Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc là một quá trình dài. Từ thập niên 1990, mối quan hệ ASEAN - Trung Quốc bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Thương mại hai chiều ASEAN - Trung Quốc tăng trưởng nhanh chóng chứng tỏ tiềm năng hợp tác kinh tế khu vực.
Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 15% kể từ năm 1995. Đến năm 2002 đã nhảy vọt đến 31,7%, 4 đạt 54,77 tỉ USD. ASEAN trở thành bạn hàng lớn thứ 5 của Trung Quốc. Đứng trước dòng chảy hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế, Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á nhận thấy tiềm năng và lợi ích của việc thành lập một sân chơi phi thuế quan thương mại.
Tháng 09/2000 tại Hội nghị các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc lần 4 tại Singapore đề xuất xây dựng ACFTA của Thủ tướng Trung 5 Quốc Chu Dung Cơ được lãnh đạo các nước ASEAN tán thành. Đến tháng 11/2001, đề xuất về “Khuôn khổ hợp tác kinh tế”, thành lập ACFTA trong vòng 10 năm được thông qua và các bên tham gia tiến hành đàm phán tại Hội nghị các 14 4 Sheng Lijun (2003), “China-ASEAN Free Trade Area: Origins, Developments and Strategic Motivation”, International Politics & Security Issues, Series No.1, Institue of Southeast Asian Studies, tr. 5 TS Hồ Châu, TS Nguyễn Hoàng Giáp, TS Nguyễn Thị Quế (2006), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc: Quá trình hình thành và triển vọng, NXB Lý luận chính trị, tr. nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc lần thứ 5 ở Brunei.
Đến tháng 11/2002, “Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện” giữa ASEAN và Trung Quốc được kí kết và có hiệu lực chính thức từ ngày 1/7/2003, đánh dấu bước phát triển mới trong mối quan hệ hợp tác của hai bên. Hai bên cam kết tăng cường và phát triển mối quan hệ kinh tế, thương mại, thực hiện tự do hóa thương mại và dịch vụ theo lộ trình 10 năm. Đến tháng 11/2004, Hiệp định thực hiện lộ trình thành lập ACFTA được kí kết. Theo đó, thuế hàng hóa giữa ASEAN và Trung Quốc bắt đầu được cắt giảm từ năm 2005 và xóa bỏ hoàn toàn vào năm 2010 với các nước ASEAN 6 bao gồm Singapore, Malaysia, Indonesia, Brunei, Philippines, Thái Lan.
Đối với các nước mới gia nhập ASEAN là Việt Nam, Lào, Campuchia, 6 Myanmar, lộ trình được kéo dài tới năm 2015. Trung Quốc nhìn nhận việc thành lập ACFTA là trong những bước quan trọng để phát triển kinh tế trong nước. ASEAN sở hữu những tài nguyên, vật liệu mà nền kinh tế Trung Quốc đang cần. Không chỉ vậy, khu vực Đông Nam Á còn là thị trường tiềm năng cho các nhà tư bản Trung Quốc vì nơi đây có dân số đông, khoảng cách địa lý không đáng ngại, có nhiều nét tương đồng về văn hóa và có lịch sử giao thương từ lâu đời.
Ngoài ra, Trung Quốc còn tìm đến Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc những mục đích chính trị khác. Trung Quốc mong muốn thông qua ACFTA sự liên kết giữa các quốc thành viên thêm chặt chẽ, xóa bỏ dần hình ảnh một Trung Quốc tham vọng, bá quyền trong mắt bạn bè quốc tế và thay bằng hình ảnh của một quốc gia thân thiện, phát triển vì mục đích hòa bình. Trung Quốc cũng mong chờ sự giao thương mạnh mẽ giữa mình và ASEAN sẽ là tiền đề để giải quyết các vấn đề về chính trị, ngoại giao. Những nỗ lực thúc đẩy thành lập ACFTA của Trung Quốc cũng cho thấy mong muốn khẳng định vị thế của mình trong công cuộc hình thành khối nhất thể Đông Á.
Một lý 15 5 TS Hồ Châu, TS Nguyễn Hoàng Giáp, TS Nguyễn Thị Quế (2006), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc: Quá trình hình thành và triển vọng, NXB Lý luận chính trị, tr. sâu xa khác là Trung Quốc lo ngại sức ảnh hưởng của Mỹ đến khu vực Châu Á – Thái Bình Dương sẽ ngày càng gia tăng, chính vì thế Trung Quốc muốn từng bước tăng sức ảnh hưởng của mình trong khu vực này thông qua các hoạt động hợp tác trên nhiều mặt, trong đó có ACFTA. Trong khi đó, mục đích chính yếu nhất của Tổ chức ASEAN trong việc thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc là phát triển kinh tế. ASEAN cũng nhận thấy Trung Quốc – quốc gia đông dân nhất thế giới, là một thị trường lớn và tiềm năng.
Sự giao thương thuận lợi giữa ASEAN và Trung Quốc sẽ tạo thêm nhiều cơ hội cho các nước thành viên của ASEAN phát triển kinh tế trong nước. Tuy nhiên sự thành lập ACFTA của mang nhiều thách thức cho các nước thành viên ASEAN khi sự phát triển giữa các nước thành viên trong Tổ chức chưa thật sự đồng đều và sức cạnh tranh chưa đủ mạnh mẽ. Ngoài mục đích về kinh tế, các nước thành viên ASEAN thành lập ACFTA vì những khác về mục tiêu chính trị. Thứ nhất, ASEAN mong muốn tăng thêm tính liên kết giữa các nước tham gia.
Tổ chức ASEAN tuy có những thành tựu ngoại giao nhất định nhưng Tổ chức vẫn chưa được đánh giá cao về tính đoàn kết như các tổ chức khác trên Thế giới. Thứ hai, thông qua những thành tựu mà Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc đạt được các nước tham gia có thể tìm ra giải pháp tốt nhất cho vấn đề Biển Đông. Theo tình trạng hiện tại, vấn đề Biển Đông vẫn chưa được giải quyết dù đã tồn tại từ rất lâu. Mặc dù các nước liên quan đã thỏa thuận giữ nguyên trạng Biển Đông nhưng vẫn cần một hướng giải quyết triệt để hơn.
Thứ ba, ASEAN coi thành lập ACFTA như là một bước tiến mới trong nỗ lực khẳng định vị thế của khu vực trong trường quốc. Tất cả các nước tham gia đều đến với Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc với những mục đích nhất định. Chính những mục đích cụ thể của từng nước sẽ là động lực thúc đẩy hình thành ACFTA. Tuy nhiên để thỏa mãn và dung 16 hòa các mục tiêu trên mà không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia liên quan là một thách thức đối với ACFTA.
Hiệu lực và thành tựu đã đạt được: Lộ trình thực hiện ACFTA cho thấy những nỗ lực tích cực từ cả hai phía ASEAN và Trung Quốc, hướng tới các mục tiêu được xác định. Về thương mại hàng hóa, cơ sở để tiến tới thiết lập ACFTA vào năm 2010 với ASEAN 6 và Trung Quốc; và vào năm 2015 đối với 4 nước thành viên 7 ASEAN mới là các cuộc đàm phán giữa ASEAN và Trung Quốc về hiệp định cắt giảm và loại bỏ thuế quan cũng như về các vấn đề khác như quy tắc xuất xứ, các biện pháp phi thuế quan, các biện pháp tự vệ trên cơ sở các nguyên tắc của GATT, vấn đề trợ cấp, chống bán phá giá và sở hữu trí tuệ… đã bắt đầu vào đầu năm 2003 và kết thúc vào cuối năm 2004. Đối với các nước ASEAN 6 và Trung Quốc, thời điểm cắt giảm bắt đầu từ năm 2005 và kết thúc vào năm 2010 với mức thuế suất đối với phần lớn các mặt hàng là 0%. Một số mặt hàng thuộc danh mục cắt giảm thông thường có thể duy trì mức thuế suất 5% vào năm 2010 và tiếp tục giảm 8 xuống 0% vào năm 2012.
Với 4 nước thành viên ASEAN mới, khoảng thời gian này là từ 01/01/2005 đến năm 2015 với mức thuế suất khởi điểm cao hơn và lịch 9 trình cắt giảm khác biệt. Các mặt hàng nằm trong danh mục hàng nhạy cảm của mỗi bên do bên đó liệt kê và sẽ được khống chế mức trần về số lượng.