ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thƣ cổ tử cung là bệnh ung thƣ phổ biến thứ 4 ở phụ nữ, xếp sau ung thƣ vú, ung thƣ trực tràng, ung thƣ phổi. Đây là một trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu của phụ nữ và tiếp tục là một vấn đề sức khỏe cộng đồng lớn ảnh hƣởng đến phụ nữ trung niên, nhất là những nƣớc đang phát triển. Năm 2018, ƣớc tính trên toàn thế giới có 570.000 trƣờng hợp mắc mới và 311.000 trƣờng hợp tử vong vì ung thƣ cổ tử cung [100]. Mặc dù có thể dự phòng và phát hiện sớm nhƣng hiện tại ung thƣ cổ tử cung vẫn là một trong những bệnh ung thƣ thƣờng gặp nhất ở phụ nữ Việt Nam.
Tính đến năm 2019, tại Việt Nam có 5.146 phụ nữ mắc ung thƣ cổ tử cung và tỷ lệ mắc mới ung thƣ cổ tử cung là 10,6/100. Mỗi ngày có 7 phụ nữ tử vong vì ung thƣ cổ tử cung, với xu hƣớng tăng lên theo thời gian [9]. Hầu hết tất cả các trƣờng hợp mắc ung thƣ cổ tử cung đều có liên quan đến việc nhiễm papillomavirus ở ngƣời, một loại vi rút cực kỳ phổ biến lây truyền qua đƣờng tình dục [93]. Tiêm vắc xin phòng ung thƣ cổ tử cung là một trong những biện pháp tốt nhất để phòng bệnh [32].
Vắc xin có hiệu quả 95%-100% trong việc ngăn ngừa bệnh ung thƣ cổ tử cung và bộ phận sinh dục liên quan đến papillomavirus ở phụ nữ 16-26 tuổi [35]. Theo Tổ chức y tế thế giới, tính đến tháng 5 năm 2017 vắc xin phòng ung thƣ cổ tử cung ở ngƣời đã đƣợc đƣa vào chƣơng trình tiêm chủng của 71 Quốc gia trên thế giới [8]. Tại Việt Nam, vắc xin phòng ung thƣ cổ tử cung lần đầu đƣợc giới thiệu vào năm 2007 thông qua dự án “Đánh giá các chiến lƣợc tiêm vắc xin phòng ung thƣ cổ tử cung tại Việt Nam giai đoạn 2007-2011” do tổ chức Program for Appropriate Technology in Health hỗ trợ [101]. Tỷ lệ nhiễm papillomavirus cao nhất ở độ tuổi cuối thanh thiếu niên và đầu tuổi 20 [99], vì họ có xu hƣớng hoạt động tình dục và có số lƣợng bạn tình cao hơn [88].
Vì vậy cần nâng cao kiến thức về phòng ngừa papillomavirus cho phụ nữ, đặc biệt là đối tƣợng thanh thiếu niên. Việt Nam có thể thực hiện các hành động để thúc đẩy tiêm chủng papillomavirus không chỉ ở cấp cá nhân mà còn ở cấp địa phƣơng hoặc quốc gia [53]. Vì lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng kiến 1 thức và thực hành tiêm vắc xin phòng ngừa ung thƣ cổ tử cung và một số yếu tố liên quan của sinh viên nữ trƣờng Đại học Võ Trƣờng Toản năm 2021” với mục tiêu đánh giá mức độ hiểu biết về kiến thức, thực hành và phân tích một số yếu tố liên quan đến tiêm vắc xin phòng ung thƣ cổ tử cung của sinh viên nữ trƣờng Đại học Võ Trƣờng Toản. Trên cơ sở đó, chúng tôi có thể đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần cải thiện nâng cao kiến thức, từ đó nâng cao nhận thức cộng đồng và sửa đổi hành vi dân số về tiêm vắc xin phòng bệnh ung thƣ cổ tử cung.
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định tỷ lệ kiến thức, thực hành tiêm vắc xin phòng ngừa ung thƣ cổ tử cung của sinh viên nữ tại trƣờng đại học Võ Trƣởng Toản năm 2021. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành tiêm vắc xin phòng ngừa ung thƣ cổ tử cung của sinh viên nữ tại trƣờng đại học Võ Trƣởng Toản năm 2021. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số thông tin về bệnh ung thƣ cổ tử cung 1. Khái niệm ung thƣ cổ tử cung Ung thƣ là quá trình bệnh lý trong đó một số tế bào thoát ra khỏi sự kiểm soát, sự biệt hóa sinh lý của tế bào và tiếp tục nhân lên. Những tế bào này có khả năng xâm lấn và phá hủy các tổ chức xung quanh. Đồng thời chúng di trú và đến phát triển ở nhiều cơ quan khác nhau và hình thành nên di căn, cuối cùng gây tử vong [1].
UTCTC là ung thƣ biểu mô tại cổ tử cung, bắt nguồn từ sự xâm nhập của vi rút HPV tại vùng chuyển tiếp. Bệnh bắt đầu từ những tổn thƣơng tiền ung thƣ (một tỷ lệ các trƣờng hợp này sẽ tiến triển thành ung thƣ), tiếp đến là ung thƣ tại chỗ và ung thƣ xâm lấn [7]. UTCTC là u ác tính nguyên phát ở cổ tử cung, có thể xuất phát từ các tế bào biểu mô vảy, biểu mô tuyến hoặc các tế bào của mô đệm. Tuy nhiên, hầu hết các UTCTC là ung thƣ biểu mô, trong đó chủ yếu là ung thƣ biểu mô vảy [6].
Tất cả phụ nữ đều có nguy cơ bị UTCTC. Việc nhiễm vi rút gây u nhú ở ngƣời (HPV) trong thời gian dài là nguyên nhân chính gây ra UTCTC. HPV là một loại vi rút phổ biến đƣợc truyền từ ngƣời này sang ngƣời khác khi quan hệ tình dục. Ít nhất một nửa số ngƣời có quan hệ tình dục sẽ nhiễm HPV vào một thời điểm nào đó trong đời, nhƣng rất ít phụ nữ sẽ bị UTCTC [26].
Gánh nặng của ung thƣ cổ tử cung Gánh nặng của ung thư cổ tử cung trên thế giới Ung thƣ cổ tử cung là bệnh lý ác tính do HPV gây ra, khoảng 570.000 trƣờng hợp mắc UTCTC và 311.000 trƣờng hợp tử vong vì căn bệnh này xảy ra trong năm 2018. UTCTC là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong liên quan đến ung thƣ ở phụ nữ Châu Phi [18]. Trong 30 năm qua, tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong đã giảm ở hầu hết các khu vực trên thế giới [39]. Sự sụt giảm này là kết quả của việc tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, giảm một số yếu tố nguy cơ (nhƣ tỷ lệ sinh), cải thiện điều trị và các chƣơng 4 trình sàng lọc dựa trên tế bào học thành công.
Tuy nhiên, hơn 80% trƣờng hợp mắc bệnh và 88% trƣờng hợp tử vong xảy ra ở các nƣớc có thu nhập thấp và trung bình. UTCTC vẫn là bệnh ung thƣ hàng đầu ở phụ nữ trong nhiều loại bệnh ở các nƣớc có thu nhập thấp và trung bình [17]. Một đặc điểm nổi bật của UTCTC là sự thay đổi của nó theo từng quốc gia, nói chung có mối tƣơng quan nghịch chặt chẽ giữa mức độ phát triển, tỷ lệ mắc và tử vong. Khả năng sống sót sau khi bệnh đã phát triển cũng tốt hơn nhiều ở những nƣớc giàu so với ở những nƣớc nghèo [42].
Trên toàn cầu, số ca mắc mới và số ca tử vong do UTCTC vẫn không ngừng tăng khoảng 0,5% mỗi năm vì già hóa dân số. Nếu không có can thiệp mới, sự gia tăng sẽ tiếp tục, đặc biệt là ở các nƣớc có thu nhập thấp hoặc trung bình, nơi tuổi thọ của phụ nữ đang đƣợc cải thiện [75]. Căn bệnh này bị ảnh hƣởng mạnh bởi văn hóa và tôn giáo, hành vi tình dục và sự lây truyền của papillomavirus (HPV). Châu Phi cận Sahara có tỷ lệ UTCTC ƣớc tính cao nhất.
Ở Guinea, Malawi và Zambia, tỷ lệ mắc bệnh chuẩn hóa theo tuổi là trên 50/100. Ở các quốc gia có thu nhập cao, tỷ lệ này thấp hơn, vào khoảng 5/100. Ở Mỹ Latinh và Caribe, Guyana, Honduras, Jamaica và Nicaragua có tỷ lệ khoảng 40/100. Ở Châu Á, tỷ lệ cao nhất là ở Bangladesh, Campuchia, Ấn Độ và Nepal [32].
Tỷ lệ mắc ung thƣ cổ tử cung đƣợc chuẩn hóa theo độ tuổi năm 2012 5 Ngay cả những nƣớc có thu nhập cao, tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong cao nhất là ở những phụ nữ nghèo nhất hoặc bị thiệt thòi nhất. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, nơi tỷ lệ trung bình mắc UTCTC thấp và liên tục giảm trong những thập kỷ gần đây, sự chênh lệch mạnh mẽ vẫn tồn tại theo chủng tộc và tình trạng kinh tế xã hội, phản ánh sự thay đổi trong khả năng tiếp cận của các dịch vụ [87]. Một đặc điểm đáng chú ý khác của UTCTC là nó ảnh hƣởng đến những phụ nữ tƣơng đối trẻ, những ngƣời thƣờng sinh nhiều con. Tuổi tử vong trung bình của phụ nữ mắc bệnh UTCTC là 54 tuổi; gánh nặng bệnh tật ở phụ nữ dƣới 40 tuổi cao hơn so với các bệnh ung thƣ khác, do số lƣợng lớn phụ nữ ở các nhóm tuổi này mắc bệnh ở các nƣớc có thu nhập thấp hoặc trung bình và thực tế là tỷ lệ UTCTC bắt đầu tăng ở độ tuổi trẻ hơn so với các bệnh ung thƣ khác [45].
Gánh nặng của ung thư cổ tử cung tại Việt Nam Ƣớc tính đến năm 2019, tại nƣớc ta có 5.146 phụ nữ mắc UTCTC, tỷ lệ mắc mới UTCTC đã chuẩn hóa theo tuổi là 10,6/100. Mỗi ngày có 7 phụ nữ tử vong vì ung thƣ cổ tử cung, 14 trƣờng hợp mới đƣợc chẩn đoán mắc bệnh. Nếu phát hiện ung thƣ cổ tử cung ở giai đoạn sớm, khu trú tại chỗ thì tỷ lệ điều trị thành công là 93%. Tuy nhiên, khi bệnh đã phát hiện ở giai đoạn trễ, tỷ lệ trị khỏi chỉ đạt 15% [9].
Thực tế tỉ lệ phụ nữ khám phụ khoa định kỳ để đƣợc tầm soát ung thƣ còn thấp, các chƣơng trình tầm soát cũng chƣa đƣợc bao phủ rộng, ý thức phòng bệnh UTCTC của phụ nữ còn hạn chế do thiếu những chƣơng trình tuyên truyền giáo dục [3]. Phụ nữ bị UTCTC phải gánh chịu những ảnh hƣởng lớn về thể chất và tinh thần. Ngay khi nhận một kết quả xét nghiệm bất thƣờng hay chẩn đoán có những tổn thƣơng tiền ung thƣ, chất lƣợng cuộc sống của ngƣời phụ nữ đã bị ảnh hƣởng nghiêm trọng; tinh thần suy sụp và nảy sinh những suy nghĩ tiêu cực; lo lắng về khả năng sống còn của bản thân, kèm theo những nỗi lo cho gia đình, tài chính, về khả năng chăm sóc con cái, khả năng mang thai và hạnh phúc gia đình. Đó là chƣa kể những gánh nặng tâm lý mà toàn thể gia đình của bệnh nhân phải gánh chịu, cũng nhƣ gánh 6 nặng về tài chính khi mất nguồn thu nhập trong gia đình, phí tổn không nhỏ cho việc điều trị [3].
Các yếu tố nguy cơ của ung thƣ cổ tử cung Nhiễm vi rút HPV Các nghiên cứu về lịch sử tự nhiên của UTCTC đã chỉ ra rằng nhiễm các loại HPV gây ung thƣ có thể dẫn đến tổn thƣơng nội biểu mô cấp độ thấp hoặc cấp độ cao. Các tổn thƣơng cấp cao có thể tiến triển thành ung thƣ biểu mô cổ tử cung nếu không đƣợc điều trị. HPV 16 chiếm khoảng 50% đến 60% ung thƣ biểu mô tế bào vảy xâm lấn trên toàn thế giới và HPV 18 chiếm thêm 10% đến 15% [28].