ĐẶT VẤN ĐỀ Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) đƣợc tổ chức vào năm 1994 tại Cairo với sự tham gia của 179 quốc gia. Tại hội nghị này, Chính phủ của 179 quốc gia tham gia đã đạt đƣợc sự đồng thuận, đồng thời cũng kêu gọi đƣa vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản và các quyền sinh sản cho phụ nữ vào vị trí trung tâm trong các hoạt động phát triển quốc gia và phát triển toàn cầu, trong đó đã nhấn mạnh đến việc chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên và thanh niên [5]. Thực hiện chƣơng trình của hội nghị ICPD, chƣơng trình dân số Việt Nam đã mở rộng nội dung và hƣớng trọng tâm vào chăm sóc sức khỏe sinh sản, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe vị thành niên và thanh niên. Việt Nam hiện có hơn 64 triệu ngƣời đang trong độ tuổi lao động, chiếm trên 68% dân số, trong đó vị thành niên, thanh niên Việt Nam (nhóm dân số từ 10-24 tuổi, theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới) chiếm khoảng trên 22% dân số.
Những năm qua, vị thành niên thanh niên Việt Nam đã có những bƣớc phát triển khá toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần; đã và đang đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khoảng trống trong chăm sóc sức khỏe sinh sản tình dục cho lứa tuổi này. Với lối sống hiện nay, đang tăng nhanh số thanh niên quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân, tình trạng nạo phá thai… tỷ lệ quan hệ tình dục trong học sinh và sinh viên cũng có xu hƣớng tăng cao. Những vấn đề này đe dọa trực tiếp đến sức khỏe sinh sản của thanh niên [24].
Cuộc điều tra với quy mô lớn đã đƣợc thực hiện tại các tỉnh thành của đất nƣớc về vị thành niên, thanh niên với tên gọi “Điều tra quốc gia về vị thành niên thanh niên Việt Nam” từ năm 2003 đến 2010 đã cho thấy Việt Nam là một trong những nƣớc có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất trên thế giới, trong đó 20% là lứa tuổi vị thành niên, trên cả nƣớc có 5% bé gái sinh con trƣớc 18 tuổi, 15% sinh con trƣớc 20 tuổi [18]. Theo Tổng Cục Dân số, tình trạng quan hệ tình dục sớm, quan hệ tình dục không an toàn, mang thai ngoài ý muốn và phá thai không an toàn, nguy cơ lây nhiễm bệnh qua đƣờng tình dục, nhiễm HIV ở vị thành niên thanh niên vẫn có 2 xu hƣớng gia tăng, nhất là khu vực nông thôn, vùng sâu các khu công nghiệp tập trung… Đặc biệt, kiến thức, kỹ năng cơ bản về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe sinh sản của thanh niên còn nhiều hạn chế; Bên cạnh tỷ lệ nạo phá thai cao, gần đây liên tiếp xảy ra tình trạng bỏ trẻ sơ sinh tại nhiều phƣơng, gây nên những cái chết thƣơng tâm đối với các sinh linh nhỏ bé. Những mẹ bỏ con mới sinh có độ tuổi thanh niên. Điều này cho thấy tình trạng này là đáng báo động và còn có những lỗ hổng về kiến thức, thái độ và thực hành về sức khoẻ sinh sản của thanh niên.
Học viện Y Dƣợc học Cổ truyền Việt Nam là trƣờng đại học y học cổ truyền đầu tiên ở Việt Nam, thành lập năm 2005. Với 15 năm hình thành và phát triển, học viện đã có những bƣớc tiến vƣợt bậc. Học viện hiện nay đang đào tạo nhiều ngành nhƣ Bác sỹ Y học cổ truyền, bác sỹ Đa khoa, dƣợc sỹ đại học, hàng năm với gần 1000 sinh viên tốt nghiệp hàng năm. Họ là sinh viên đến từ nhiều vùng miền trong cả nƣớc, là những cán bộ ngành y trong tƣơng lai, liệu những kiến thức, thái độ và thực hành của họ về sức khoẻ sinh sản đã đủ làm hành trang cho họ vào đời? Chính vì vậy, đề tài “Kiến thức, thái độ thực hành về sức khỏe sinh sản của sinh viên Học viện Y dƣợc học cổ truyền Việt Nam năm 2020 và một số yếu tố liên quan” đƣợc thực hiện với mục tiêu cụ thể nhƣ sau: 1.
Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản của sinh viên Học viện Y dƣợc học cổ truyền Việt Nam năm 2020. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về sức khỏe sinh sản của đối tƣợng nghiên cứu. Thang Long University Library 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN SINH VIÊN VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN 1.1 Khái niệm vị thành niên, thanh niên và sinh viên Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) quy định lứa tuổi 10 -19 tuổi là độ tuổi vị thành niên.
Thanh niên trẻ là lứa tuổi từ 19 – 24 tuổi. Chƣơng trình Sức khỏe sinh sản/ Sức khỏe tình dục vị thành niên – thanh niên của khối liên Minh Châu Âu (EU)và quỹ dấn số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) lấy độ tuổi từ 15 – 24 tuổi. Theo Từ điển Giáo dục học của nhà xuất bản Từ điển Bách khoa: “Sinh viên là ngƣời học của một cở sở giáo dục cao đẳng, đại học” [17]. Theo cách hiểu này, có thể phân loại sinh viên theo nhiều phạm trù khác nhau.
Ví dụ sinh viên tập trung, sinh viên chính quy, sinh viên không tập trung, sinh viên tại chức, sinh viên tự do. Về độ tuổi, theo Điều 1, chƣơng I, Luật thanh niên 2005, thanh niên trong đó có cả thanh niên sinh viên là “công dân Việt Nam từ đủ mƣời sáu tuổi đến ba mƣơi tuổi” [27]. Quan điểm cho rằng tuổi thanh niên sinh viên thuộc giai đoạn tuổi thanh niên là phù hợp xét theo nhiều mặt. Theo cách hiểu đó, tuổi thanh niên là “giai đoạn phát triển bắt đầu từ sự phát dục và kết thúc vào lúc bƣớc vào tuổi trƣởng thành”.
Tuy nhiên việc phát dục hay trƣởng thành về mặt sinh dục của mỗi trẻ em là hoàn toàn khác nhau. Trên thực tế, ngƣời ta thƣờng đƣa ra các chuẩn về mặt sinh lý, về mặt xã hội. để xác định lứa tuổi thanh niên. Cũng có quan niệm cho rằng nội dung tuổi thanh niên là những giai đoạn của cuộc đời.
Quan niệm này có phần chặt chẽ, khoa học hơn khi cho rằng tuổi thanh niên là giai đoạn chuyển tiếp, quá độ từ trẻ em đến ngƣời lớn và bao gồm lứa tuổi từ 11-12 đến 23-25 tuổi và trong đó đặc biệt lƣu ý đến 2 thời kỳ cơ bản sau: 4 + Tuổi thanh niên mới lớn (từ 14-15 đến 18 tuổi): Đặc trƣng là sự trƣởng thành về mặt cơ thể, sự chín muồi sinh vật, là giai đoạn hoàn thiện quá trình xã hội hóa đầu tiên. Tuổi thanh niên mới lớn cũng thuộc “thời kỳ chuyển tiếp trƣớc”. + Thời kỳ thứ ba của lứa tuổi chuyển tiếp (từ 18 đến 23-25 tuổi): là tuổi thanh niên muộn hay thời kỳ bắt đầu của tuổi ngƣời lớn còn gọi là “thời kỳ chuyển tiếp sau”. Lứa tuổi này “lớn” về cả hai phƣơng diện sinh học và quan hệ xã hội.
Theo Nguyễn Thạc và Phạm Thành Nghị (1992) “SV đại học, cao đẳng là những thanh niên thuộc thời kỳ chuyển tiếp sau” [32]. Việc cho rằng thanh niên nằm trong thời kỳ chuyển tiếp và SV đại học, cao đẳng thuộc thời kỳ chuyển tiếp sau cũng phù hợp với quan niệm của nhà tâm lý học ngƣời Mỹ Niky Hayes (2005) [36] khi cho rằng “thời thanh niên nhƣ một thời kỳ chuyển tiếp vai trò ngày càng tăng, đến lƣợt dẫn đến sự thay đổi nhân cách”. Theo đó việc chuyển tiếp có thể diễn ra từ trƣờng học đến nơi làm việc hay thực hành kinh nghiệm đòi hỏi thanh niên nói chung và thanh niên sinh viên nói riêng phải tập quen nhiều hành vi vai trò khác biệt nhau nhằm mục đích hƣớng tới việc hoàn thiện bản thân. Sự phát triển của thanh thiếu niên luôn là vấn đề đƣợc quan tâm hàng đầu ở Việt Nam.
Vì thanh thiếu niên đặc biệt là thanh niên sinh viên có tiềm năng to lớn quyết định sự lớn mạnh và thịnh vƣợng của đất nƣớc nên việc việc nắm đƣợc những vấn đề cốt lõi trong sự phát triển của họ là hết sức quan trọng [5].2 Khái niệm về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục Vấn đề sức khỏe sinh sản (SKSS) là vấn đề khá mới mẻ, lý thú, nhạy cảm. Vấn đề này đã thực sự thu hút sự quan tâm của nhiều nƣớc trên thế giới. Chính vì vậy, từ việc nhận thức đƣợc tầm quan trọng của công tác giáo dục dân số cho thế hệ trẻ, và kể từ sau Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển tổ chức tại Cairo, Ai Cập năm 1994 (ICPD), chƣơng trình dân số chuyển hƣớng sang quan tâm nhiều hơn đến chất lƣợng dân số, trong đó trọng tâm là nội dung chăm sóc Thang Long University Library 5 SKSS. Hầu hết các nghiên cứu về SKSS ở các nƣớc trên thế giới và ở Việt Nam thƣờng hƣớng về đối tƣợng thanh, thiếu niên và nhất là vị thành niên và thƣờng là học sinh ở các trƣờng trung học cơ sở và trung học phổ thông [5].
Có thể nói, việc nghiên cứu SKSS nói chung và nghiên cứu SKSS vị thành niên nói riêng đã đƣợc tiến hành rất sớm trên thế giới, nhất là ở các quốc gia phát triển nhƣng thƣờng đƣợc gọi với những tên gọi khác nhau nhƣ sức khỏe vị thành niên hay giới tính, tình dục thanh thiếu niên. Kể từ sau Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển tổ chức tại Cairo, Ai Cập năm 1994 (ICPD) khi đã có định nghĩa chính thức về SKSS thì việc nghiên cứu SKSS nhất là cho đối tƣợng thanh thiếu niên đang là “mối quan tâm của không những các nhà khoa học, các nhà giáo dục, các nhà quản lý xã hội mà cả các bậc cha mẹ đƣợc đẩy lên một trình độ mới” [23]. Tại Hội nghị ICPD Sức khỏe sinh sản đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Sức khỏe sinh sản là trạng thái khỏe mạnh, hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội trong tất cả mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống sinh sản, chức năng sinh sản và quá trình sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tổn thƣơng ở bộ máy sinh sản” [5]. Khái niệm SKSS trên hàm ý là con ngƣời có thể có một cuộc sống tình dục an toàn và thỏa mãn, có khả năng sinh sản, đƣợc tự do quyết định khi nào và thƣờng xuyên nhƣ thế nào trong việc này.
Định nghĩa trên cũng khẳng định viêc chăm sóc SKSS là một tổng thể các biện pháp kỹ thuật và dịch vụ góp phần nâng cao sức khỏe và hạnh phúc bằng cách phòng ngừa và giải quyết các vấn đề sức khỏe sinh sản.