Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN SỰ KIẾN TẠO VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG CỦA KHU ĐÔ THỊ MỚI Ở HÀ NỘI 1. NGHIÊN CỨU VỀ VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG VÀ VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG CỦA ĐÔ THỊ HÀ NỘI 1. Về cộng đồng và văn hóa cộng đồng 1. Về cộng đồng “Cộng đồng” là vấn đề đã được nhiều nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước đề cập đến từ nhiều khía cạnh và nội dung khác nhau.
Fichter nhận thấy bản thân mỗi cộng đồng đều có sự liên kết, cố kết nội tại. Sự cố kết này không phải do các quy tắc rõ ràng, thành văn, mà do các quan hệ sâu hơn - đó là hằng số văn hóa. Vì vậy, để hiểu ý nghĩa xã hội của cộng đồng, cần phải xem xét trên ba lĩnh vực là đoàn kết xã hội, tương quan xã hội và cơ cấu xã hội. Nhà xã hội học người Đức Fedinand Tonnies đã phân biệt cộng đồng truyền thống thuộc xã hội nông nghiệp - nông thôn (Gemeinschaft) với cộng đồng thuộc xã hội công nghiệp - đô thị (Gesellschaft).
Theo ông, cộng đồng truyền thống có những đặc trưng như: quan hệ xã hội mang tính thân tình và thân mật; bền vững; vị thế xã hội của cá nhân được gán sẵn; tính cộng đồng lấy quan hệ dòng họ làm cơ bản. Khác với cộng đồng truyền thống, cộng đồng đô thị có những đặc trưng như: tính cá nhân rất cao (thậm chí là chủ nghĩa cá nhân); quan hệ xã hội dựa trên khế ước, hợp đồng, các cam kết; coi trọng sự hợp lý và tính toán trong các quan hệ xã hội; cá nhân phải phấn đấu để đạt được vị thế nhất định trong xã hội; sự nặc danh (vô danh) trong tương tác xã hội [33, tr. Về phân loại cộng đồng, Murray G. Ros đã phân ra thành hai loại: cộng đồng địa dư và cộng đồng chức năng.
Cộng đồng địa dư là nhóm dân cư ở trong một địa vực riêng biệt, chẳng hạn như một làng, một tỉnh, một thành phố. Cộng đồng địa dư có thể mở rộng ra để bao gồm tất cả dân chúng trong một nước, một khu vực hoặc cả thế giới. Cộng đồng chức năng là một nhóm người có cùng quyền lợi, công việc hay nghĩa vụ chung. Những quyền lợi này không bao gồm tất cả những người trong cùng luan an 9 một cộng đồng địa dư mà chỉ những cá nhân và những nhóm có cùng quyền lợi hay chức năng nào đó chung với nhau.
Rõ ràng, cộng đồng chức năng không có ranh giới rõ ràng. Nó có thể nằm trong một cộng đồng địa dư, cũng có thể được hình thành trên nhiều cộng đồng địa dư khác nhau [33, tr. Quan điểm của ông cho thấy các loại cộng đồng có thể không có ranh giới rõ ràng. Các thành viên của cộng đồng này có thể là thành viên của các cộng đồng khác.
Đây là một phát hiện quan trọng, NCS sẽ vận dụng để tiến hành nghiên cứu về VHCĐ KĐTM. VHCĐ của KĐTM không chỉ diễn ra trong phạm vi KĐTM (cộng đồng địa dư). Thông qua các cá nhân/nhóm trong cộng đồng tham gia hoạt động văn hóa với các cộng đồng khác, VHCĐ của KĐTM có thể tạo nên và lan tỏa ra bên ngoài địa vực KĐTM (tạo nên yếu tố văn hóa ngoại tại). Từ góc độ nghiên cứu của xã hội học, tác giả Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang [33] khẳng định cộng đồng có nhiều loại hình khác nhau.
Nhìn chung, các cộng đồng được phân loại thành những loại hình chủ yếu sau: Thứ nhất, loại hình cộng đồng thuần khiết và cộng đồng không thuần khiết. Thứ hai, loại hình cộng đồng theo tính trồi nào đó như cộng đồng lãnh thổ, cộng đồng huyết thống, cộng đồng dân tộc, cộng đồng tộc người, cộng đồng nghề nghiệp, cộng đồng tôn giáo, cộng đồng địa dư… Đây là các cộng đồng được phân chia dựa trên một đặc trưng xã hội của yếu tố nổi bật nhất định. Thứ ba, loại hình cộng đồng lịch sử theo các thuyết tiến hóa xã hội. Theo lý thuyết hình thái KT - XH của chủ nghĩa Mác, toàn bộ lịch sử nhân loại trải qua 3 hình thái cơ bản cộng đồng tính: (1) Cộng sản nguyên thủy với tính cộng đồng thuần khiết nguyên sơ; (2) Các hình thái KT - XH có giai cấp và đấu tranh giai cấp; (3) Hình thái cộng sản chủ nghĩa dường như sẽ quay lại cộng sản nguyên thủy nhưng trên một trình độ cao hơn [33, tr.
Tác giả Phạm Hồng Tung [78] giới thiệu cách phân loại phổ biến nhất hiện nay. Đó là chia cộng đồng thành ba loại: Thứ nhất, cộng đồng địa lý hay cộng đồng địa vực. Đặc trưng nổi bật của loại cộng đồng này là sự có chung hay cùng chia sẻ địa vực tồn tại của các cá thể trong cộng đồng. Trong thực tiễn, đây thường là một trong những tiêu chí quan trọng để luan an 10 nhận biết cộng đồng.
Cộng đồng địa lý có ba nhóm cơ bản: (1) cộng đồng đơn vị cư trú - hành chính; (2) cộng đồng láng giềng; (3) cộng đồng được kế hoạch hóa. Thứ hai, cộng đồng văn hóa hay cộng đồng bản sắc. Tiêu chí gốc là các thành viên có chung bản sắc hay những đặc trưng văn hóa. Vì vậy, dù có hoặc không có địa bàn quần cư chung, họ vẫn thường xuyên có những tương tác và dễ dàng nhận biết về nó.
Hình thức tiêu biểu của loại hình cộng đồng này là: (1) cộng đồng nghề nghiệp; (2) cộng đồng ảo; (3) cộng đồng tộc người; (4) cộng đồng tôn giáo; (5) cộng đồng chính trị; (6) cộng đồng tưởng tượng. Thứ ba, cộng đồng tổ chức: cộng đồng này dễ nhận biết bởi nó thường là những thực thể xã hội hiện hữu, tồn tại khá bền vững. Hình thức chủ yếu của loại hình cộng đồng này là: (1) cộng đồng huyết thống, chủ yếu là gia đình và họ tộc; (2) các tổ chức chính trị và xã hội; (3) các tổ chức kinh tế, kinh doanh… Cách phân loại này đã cung cấp một công cụ cho người nghiên cứu về cộng đồng và VHCĐ. Trong thực tế, rất khó tìm được một cộng đồng thuần nhất chỉ thuộc về một loại hình cộng đồng mà tác giả Phạm Hồng Tung đã khái quát ở trên.
Hầu như các cộng đồng đều ở dạng hỗn dung hay phức hợp của những kiểu loại khác nhau. Vì vậy, khi nghiên cứu về VHCĐ theo địa vực, NCS không thể không chú ý đến mối liên hệ của các cá nhân, nhóm trong cộng đồng này với các cộng đồng khác. Điều đó sẽ giúp giải thích được nhiều hiện tượng văn hóa trong cộng đồng KĐTM hiện nay. Khác với cách phân loại cộng đồng của tác giả Phạm Hồng Tung, Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang, đồng tình với cách phân chia của Murray G.
Ros, Giáo trình môn: Văn hóa cộng đồng [76] chia cộng đồng thành hai loại: - Cộng đồng địa lý: gồm những người dân cư trú trong cùng một địa bàn. Cộng đồng này có thể có các đặc điểm văn hóa xã hội giống nhau và mối quan hệ ràng buộc với nhau. Họ cùng được áp dụng chính sách chung. - Cộng đồng chức năng: gồm những người có thể cư trú gần nhau hoặc không gần nhau nhưng có lợi ích chung.
Họ liên kết với nhau trên cơ sở nghề nghiệp, sở thích, hợp tác hay hiệp hội có tổ chức [76, tr. Như vậy, có nhiều cách phân loại cộng đồng, mỗi loại hình có quy mô và cấp độ khác nhau từ lớn đến nhỏ, từ chung chung đến cụ thể. Cách phân loại này giúp cho luan an 11 người nghiên cứu nhận thức rõ hơn về đối tượng nghiên cứu. Dựa trên các cách phân loại đó, NCS nhận thấy cộng đồng KĐTM thuộc loại hình cộng đồng địa lý (hay địa vực, hoặc địa dư) là chủ yếu.
Song, các thành viên của cộng đồng này có thể tham gia vào nhiều cộng đồng khác. Về văn hóa cộng đồng Văn hóa cộng đồng là vấn đề quan trọng trong nghiên cứu về các cộng đồng khác nhau tồn tại trong lịch sử cũng như trong các xã hội hiện đại. Đến nay, đã có nhiều tác giả công bố các công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này. Về tiêu chí hình thành VHCĐ ở Việt Nam, đã có một số tác giả ít nhiều đề cập đến (mặc dù chưa có công trình nào đưa ra một quan niệm đầy đủ về VHCĐ).
Tác giả Trần Quang Nhiếp [53] cho rằng: Để xây dựng VHCĐ cơ sở, phải có những tiêu chí, chuẩn mực làm căn cứ cho mọi thành viên trong cộng đồng noi theo. Những tiêu chí, chuẩn mực này cũng là căn cứ quan trọng để thực hiện kiểm tra, giám sát, đánh giá trình độ văn hóa của mỗi thành viên và của cả cộng đồng. Những chuẩn mực VHCĐ cơ sở không thoát ly khỏi thực tế trình độ, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội. Nhân dân phải là người trực tiếp tham gia xây dựng những tiêu chí VHCĐ ở địa phương, không có sự áp đặt chủ quan hoặc vay mượn từ bên ngoài.
Tác giả đã nêu lên một số tiêu chuẩn cụ thể như sau: - Về chính trị: xác định rõ chế độ chính trị theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập với thế giới hiện đại; nghiêm chỉnh thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. - Về đạo đức, lối sống: lòng trung thực, tính ngay thẳng, tình thương yêu giúp đỡ, gắn bó với cộng đồng. Trong các mối quan hệ gia đình, xã hội phải chân tình, cởi mở, gần gũi, gắn bó, không cá nhân, ích kỷ; có đời sống kinh tế ổn định và phát triển, đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, có nơi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, vui chơi; không mê tín dị đoan, thực hiện ma chay, cưới hỏi, lễ hội, các hoạt động văn hóa lành mạnh, tiến bộ. - Sự thống nhất về bản sắc dân tộc: luôn giữ gìn những giá trị truyền thống tốt đẹp, mọi người đều gương mẫu, tôn trọng, tự giác thực hiện các quy định về đạo đức, lối sống, nếp sống văn minh, tiến bộ.
luan an 12 Tác giả cũng cho rằng để xây dựng VHCĐ cơ sở, nên kết hợp hiệu quả Nhà nước và nhân dân cùng làm trong xây dựng các thiết chế văn hóa, giải quyết những nhu cầu cơ bản về giao thông, điện chiếu sáng, trường học, trạm y tế; giúp cộng đồng xác định nội dung, phương hướng hoạt động, xây dựng cảnh quan môi trường, vệ sinh sạch đẹp, văn minh, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Có thể nói, những tiêu chí mà tác giả Trần Quang Nhiếp nêu lên có phần lý tưởng hóa, thể hiện rõ đặc tính của nhà quản lý. Song, đó cũng là điều chúng ta cần chú ý để định hướng cho sự phát triển VHCĐ.