MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Kiến (Hymenoptera: Formicidae) là nhóm côn trùng có thể được tìm thấy trong bất kỳ môi trường sống nào từ Bắc Cực đến xích đạo [27], mặc dù chúng vắng mặt tại các vùng băng giá như Iceland, Greenland và Nam Cực. Các nhà khoa học ước tính có khoảng hơn 35000 loài trên thế giới và hiện nay có khoảng hơn 16000 loài đã được mô tả [42]. Sự đa dạng các loài kiến ở từng khu vực cũng rất khác nhau, thậm chí là các vùng khô cằn cũng có sự đa dạng cao [8] và sự đa dạng đó tùy thuộc vào điều kiện môi trường nơi chúng sống, ví dụ các vùng đất ngập nước đã làm giảm sự đa dạng của các loài kiến [32].
Có thể sử dụng kiến như các loài chỉ thị sinh học để đánh giá chất lượng môi trường rừng, do kiến khá nhạy cảm với sự thay đổi về điều kiện môi trường, việc thu mẫu kiến khá dễ dàng và không quá khó trong việc phân loại nên người ta thường sử dụng kiến để đánh giá công tác bảo tồn, giám sát tác động môi trường, quản lí các hệ sinh thái và đánh giá sự phục hồi của các hệ sinh thái [26]. Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới có tính đa dạng của các loài sinh vật cao và kiến cũng không nằm ngoài nhận định này. Do đó tiềm năng nghiên cứu về kiến ở Việt Nam là rất lớn, đặc biệt là vai trò quan trọng của kiến trong các hệ sinh thái, nhưng các nghiên cứu về khu hệ kiến họ Formicidae ở Việt Nam mới chỉ được một số tác giả trong nước và nước ngoài quan tâm nghiên cứu từ những năm đầu của thế kỷ 20. Trong đó VQG Tam Đảo được cho là khu vực có sự đa dạng các loài kiến cao ở miền Bắc Việt Nam do vị trí địa lí nằm ở trung tâm khu vực và ở đây có hệ động thực vật phong phú vào bậc nhất của nước ta.
Tuy nhiên, mới chỉ có nghiên cứu về thành phần các loài kiến được thực hiện ở Tam Đảo [19], mà chưa có nghiên cứu nào về sự đa dạng và biến động số lượng của các loài kiến (Hymenoptera: Formicidae) ở các sinh cảnh khác nhau tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh, Vĩnh Phúc, là vùng đệm của VQG Tam Đảo. Nguyễn Thanh Loan Cao học K17 Trang 1 download by : skknchat@gmail.com Xuất phát từ những lí do trên, đề tài : “Nghiên cứu sự đa dạng và biến động số lượng của các loài kiến (Hymenoptera: Formicidae) trên một số sinh cảnh tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh, Vĩnh Phúc” được lựa chọn. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu sự đa dạng, mức độ phổ biến và biến động số lượng của các loài kiến ở các sinh cảnh khác nhau tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh, Vĩnh Phúc. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn - Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu nhằm đưa ra những dẫn liệu mới về thành phần và sự đa dạng của các loài kiến tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh, Vĩnh Phúc, làm cơ sở cho những nghiên cứu về sinh học sinh thái, sử dụng các loài kiến làm chỉ thị sinh học và ứng dụng trong phòng trừ sinh học.
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất những giải pháp bảo tồn sự đa dạng của các loài kiến. Điểm mới Đây là nghiên cứu đầu tiên về sự đa dạng thành phần và biến động số lượng của các loài kiến trên các sinh cảnh khác nhau theo mùa tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh, Vĩnh Phúc. Nguyễn Thanh Loan Cao học K17 Trang 2 download by : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tài nguyên thiên nhiên khu vực nghiên cứu.
Theo tài liệu của UBND xã Ngọc Thanh (2004) [7] và báo cáo khoa học của Lê Đồng Tấn (2003) [5], Trạm đa dạng sinh học Mê Linh – Vĩnh Phúc có những đặc điểm sau: 1. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý và ranh giới hành chính Trạm đa dạng sinh học Mê Linh nằm trong địa phận của hợp tác xã Đồng Trầm, thuộc xã Ngọc Thanh, Thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Cách trung tâm thị xã Phúc Yên 35 km, cách hồ Đại Lải khoảng 12 km về phía Bắc.
Khu vực trạm ở phía Bắc giáp huyện Phổ Yên, tỉnh Bắc Thái; phía Đông giáp Hợp tác xã Đồng Trầm, xã Ngọc Thanh Thị xã Phúc Yên; phía Tây giáp vùng ngoại vi Vườn Quốc gia Tam Đảo, huyện Tam Đảo. Diện tích Trạm khoảng 170,3 ha; chiều dài khoảng 3.000m, chiều rộng từ 300- 800 m. Độ cao từ 50-520 m so với mặt nước biển [3]. Khu vực Trạm có tọa độ: Điểm cực Bắc (A): N21025’35; E 105046’85.
Điểm cực Nam (D): N21023’57; E 105043’21. Điểm cực Tây (Đ): N21023’35; E 105042’40. Điểm cực Đông (B): N21025’15; E 105046’65. Nguyễn Thanh Loan Cao học K17 Trang 3 download by : skknchat@gmail.1 Bản đồ đa dạng thực vật Trạm đa dạng sinh học Mê Linh 1.
Địa hình Khu vực Trạm đa dạng thuộc vùng bán sơn địa ở phía Bắc huyện Mê Linh. Đây là phần kéo dài về phía Đông Nam của dãy Tam Đảo, có địa hình đồi núi thấp với xu hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, điểm cao nhất huộc đỉnh núi Đá Trắng cao 520m. Địa hình của Trạm đa dạng phần lớn là đất dốc (độ dốc trung bình 15-300), các bãi bằng rất ít, rải rác vài ba bãi nhỏ dọc ven suối vùng ranh giới phía Tây. Đây là khu vực rừng đầu nguồn của một vài suối nhỏ chảy ra hồ Đại Lải.
Nguyễn Thanh Loan Cao học K17 Trang 4 download by : skknchat@gmail. Điều kiện địa chất- thổ nhưỡng Về địa chất Trạm đa dạng sinh học Mê Linh, Vĩnh Phúc là một bộ phận của dãy núi Tam Đảo nên có cấu tạo địa chất chủ yếu là tầng phun trào acid gồm các lớp Rionit, Daxit kết tinh xen kẽ nhau, có tuổi khoảng 260 triệu năm. Về thổ nhưỡng Nhìn chung các loại đá mẹ khá cứng, thành phần khoáng có nhiều thạch anh, Muscovit, khó phong hóa, hình thành nên các loại đất thành phần cơ giới nhẹ, cấp hạt thô, dễ bị rửa trôi và xói mòn, ở những nơi đất cao (khu vực có độ cao 300-400 m) đất bị xói mòn mạnh nhiều nơi trơ phần đá cứng. Theo nguồn gốc phát sinh có hai loại đất chính như sau: - Trên độ cao 300 m là đất Feralit mùn đỏ vàng, đất thường có màu vàng do độ ẩm cao, hàm lượng sắt di động và nhôm tích lũy tương đối nhiều.
Đất phát triển trên đá Macma acid kết tinh chua: Rhyonit, Daxit, Granit nên tầng đất mỏng, thành phần cơ giới nhẹ, tầng mùn mỏng, không có tầng thảm mục, đá lộ đầu nhiều >35%. - Dưới độ cao 300 m là đất Feralit vàng phát triển trên đá sa thạch cuội kết hoặc dăm kết, thành phần đất có nhiều khoáng sét (phổ biến là Kaolinit, ngoài ra còn có khoáng Hydroxit sắt, nhôm lẫn trong đất và Silic bị rửa trôi). Khả năng hấp phụ của đất không cao. Độ cao dưới 100 m ven các con suối lớn có đất tụ phù sa, thành phần cơ giới của loại đất này là trung bình, tầng dất dày, độ ẩm cao, màu mỡ, đã được khai phá trồng lúa và hoa màu.
Đất chua, có độ pH từ 3,5-5,5 thành phần cơ giới trung bình, độ dày tầng đất mặt trung bình từ 30 cm- 50 cm. Điều kiện khí hậu- thủy văn Điều kiện khí hậu Nguyễn Thanh Loan Cao học K17 Trang 5 download by : skknchat@gmail.com Trạm đa dạng sinh học Mê Linh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm là 23,50C, mùa hè từ 27-290C, mùa đông từ 16-170C. Có hai mùa gió thổi: gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, gió Đông Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9 trong năm. Trạm đa dạng sinh học Mê Linh- Vĩnh Phúc bị những dãy núi nhỏ ngăn cách gió Đông Nam từ Thái Nguyên thổi sang.
Lượng mưa trong năm vào loại thấp khoảng 1. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 chiếm 85% lượng mưa cả năm. Lương mưa phân phối không đều, thường tập trung vào mùa hè (từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm). Lượng mưa cao nhất vào tháng 6 đến tháng 8.
Số ngày mưa trong năm khoảng 140 ngày. Độ ẩm trung bình khoảng 85%.thấp nhất vào tháng 2, độ ẩm nhỏ hơn 80%. Lượng bốc hơi nước trung bình hàng năm là 1040,2 mm gần bằng lượng mưa trong năm. Điều kiện thủy văn Trạm đa dạng sinh học Mê Linh chỉ có một con suối nhỏ có nước thường xuyên, bắt nguồn từ cực bắc chảy dọc biên giới phía Tây (phân cách với huyện Tam Đảo) và gặp suối Thanh Lộc rồi chảy ra hồ Đại Lải.
Ngoài ra, còn một số suối cạn ngắn ngày chỉ có nước sau những trận mưa. Tình hình kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu Trong khu vực nghiên cứu không có người dân sinh sống tuy nhiên do tập quán canh tác của những người dân sinh sống gần khu vực nên các hoạt động như: Chăn thả gia súc, lấy củi, măng vẫn diễn ra trong khu vực nghiên cứu. Trong những năm gần đây do có sự đổi mới các chính sách về kinh tế, xã hội của nhà nước nên đã có những tác động tích cực đến đời sống nhân dân trong xã nên đã phần nào cải thiện được đời sống của người dân. Tuy nhiên do ảnh hưởng của tập quán sinh sống của nhân dân quanh khu vực là nhờ vào khai thác lâm sản trong rừng đã có từ lâu đời nên ý thức người dân về bảo vệ rừng vẫn chưa cao: rừng vẫn bị chặt để lấy củi, săn bắt các loài thú, đốt nương làm rẫy… đây là những nguyên nhân làm cho nguồn tài nguyên sinh vật của khu vực bị giảm sút nghiêm trọng.
Nguyễn Thanh Loan Cao học K17 Trang 6 download by : skknchat@gmail. Hiện trạng đa dạng sinh học Kết quả nghiên cứu của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật cho thấy khu hệ động thực vật của khu vực nghiên cứu rất đa dạng và phong phú [6]. Về thực vật Đã ghi nhận tại khu vực Trạm đa dạng sinh học Mê Linh có 1.127 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 651 chi, 168 họ. Về động vật Động vật có xương sống ở cạn: Đã ghi nhận 20 loài thú, 73 loài chim, 20 loài bò sát, 12 loài ếch nhái.
Trong đó có 12 loài quý hiếm được đưa vào Sách đỏ Việt Nam năm 2000; 3 loài xếp trong Sách đỏ thế giới của IUCN năm 2000; 3 loài đặc hữu và 3 loài ghi trong Danh lục I (Những loài cấm săn bắt và buôn bán) của Nghị định 18/HĐBT.