chương 1 trình bày sự cần thiết của đề tài, các mục tiêu cần được nghiên cứu, và thông qua các phương pháp nghiên cứu để tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra. Đồng thời, tác giả cũng làm rõ các đối tượng, phạm vi, dữ liệu và đóng góp của nghiên cứu nhằm làm cơ sở và hướng đi cho bài nghiên cứu trong các chương tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC CHI PHÍ BÁN HÀNG VÀ CHI PHÍ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP Các nghiên cứu nước ngoài Theo bài nghiên cứu của Yasu và Kajiwara (2011), nhóm tác giả đã thực hiện nghiên cứu bằng việc sử dụng các kế hoạch bán hàng do các nhà quản lý đưa ra và kiểm tra giả thuyết rằng biến động chi phí bán hàng là kết quả của quyết định có chủ ý từ các nhà quản lý bằng cách kiểm tra thực nghiệm xem kế hoạch bán hàng của nhà quản lý có ảnh hưởng hay không về biến động chi phí bán hàng. Tác giả đã kết luận rằng xem kế hoạch bán hàng của nhà quản lý có tác động cùng chiều đến mức độ biến động chi phí bán hàng.
Theo bài nghiên cứu của Deb và cộng sự (2018), nhóm tác giả đã nghiên cứu về những thuận lợi, khó khăn và vướng mắc khi thực hiện kiểm toán tổng chi phí của doanh nghiệp tại quốc gia Bangladesh ở Nam Á và từ đó đề xuất các giải pháp để giải quyết các khó khăn và vướng mắc đó. Để thực hiện bài nghiên cứu, nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu phỏng vấn trực tiếp 20 KTV để thu thập dữ liệu về các ưu điểm và nhược điểm trên. Kết quả đạt được từ bài nghiên cứu trên, đó là nhóm tác giả đã khám phá ra được những điểm khó khăn và vướng mắc lớn khi thực hiện kiểm toán chi phí. Một là năng lực chuyên môn từ các KTV về nhận thức và sự hiểu biết còn khá yếu.
Hai là các KTV áp dụng các chuẩn mực kiểm toán chưa thực sự hợp lý và đúng đắn. Vì thế, nhóm tác giả đã đề xuất các giải pháp để khắc phục các điểm yếu trên, điển hình như đào tạo thêm năng lực chuyên môn, kỹ năng và sự hiểu biết chuẩn mực kiểm toán cho các KTV, ngoài ra các KTV phải tự học và nghiên cứu sâu hơn cho bản thân để việc thực hiện kiểm toán chi phí tại quốc gia của mình thực sự hiệu quả. Theo bài nghiên cứu của Kim và cộng sự (2022), nhóm tác giả nghiên cứu về yếu tố hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) của doanh nghiệp có tác động như thế nào đến hai khoản mục CPBH và CPQLDN. Để thực hiện bài nghiên cứu, nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp định lượng để đánh giá hệ thống KSNB có mối quan hệ như thế 6 nào với CPBH và CPQLDN.
Bài viết dựa vào mô hình thực nghiệm (Empirical model) được phát triển bởi Anderson và cộng sự (2003). Mẫu của nhóm tác giả được lấy trong khung thời gian từ năm 2004 đến 2016. Nhóm tác giả kết luận rằng các nhà quản lý trong các công ty có hệ thống KSNB yếu kém, khi đối mặt với sự không chắc chắn về thông tin, có nhiều khả năng trì hoãn việc điều chỉnh giảm các nguồn lực dự phòng từ đó dẫn đến sự cứng nhắc trong khâu xử lý CPBH và CPQLDN. Kết quả là chất lượng của hệ thống KSNB tác động vô cùng mạnh mẽ đến CPBH và CPQLDN.
Các nghiên cứu trong nước Bài luận văn của thạc sĩ Nguyễn Thị Võ Thảo (2021) “Ảnh hưởng của biến động chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp đến quản trị lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và dữ liệu thứ cấp là thông tin tài chính của 249 công ty được thu thập từ hai sàn giao dịch chứng khoán của Việt Nam là HNX và HOSE. Qua bài nghiên cứu, tác giả đã cho rằng biến động CPBH có mối quan hệ cùng chiều với mức độ quản trị lợi nhuận và biến động CPQLDN có mối quan hệ ngược chiều với mức độ quản trị lợi nhuận. Ngoài ra, biến đòn bẩy tài chính, quy mô công ty và loại công ty kiểm toán không có ý nghĩa thống kê với mức độ quản trị lợi nhuận.
Bài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tuyết Nhung (2022) “Quy trình kiểm toán khoản mục chi phí hoạt động trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Crowe Việt Nam”. Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các KTV và dữ liệu thứ cấp được thu thập từ hồ sơ kiểm toán, chứng từ của khách hàng. Qua bài nghiên cứu, tác giả đã đề cập rằng điểm yếu lớn nhất đến từ nguyên nhân khách quan. Cụ thể vì tính bảo mật của số liệu Công ty cho nên bản thân tác giả không thể thực hiện khảo sát thêm nhiều bộ hồ sơ kiểm toán của nhiều loại hình doanh nghiệp khác để cho ra bức tranh phân tích đặc sắc hơn.
Tác giả cũng đề xuất các giải pháp để hoàn thiện quy trình kiểm toán như thiết kế riêng các câu hỏi về các hoạt động KSNB tại công ty khách hàng, thiết lập thủ tục phân tích dựa trên số liệu bình quân của nhiều loại doanh nghiệp cùng ngành,…Tuy nhiên, bài nghiên cứu trên mắc một điểm hạn chế 7 lớn đó chính là dữ liệu sơ cấp được thu thập từ các KTV có trình độ, tuổi nghề khá trẻ mà không thu thập những ý kiến từ các KTV có trình độ kinh nghiệm lâu năm trong nghề. Điều này làm bài nghiên cứu giảm đi tính tin cậy cho các dữ liệu sơ cấp. Bài nghiên cứu của tác giả Đoàn Thị Cẩm Duyên (2023) “Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH DFK Việt Nam”. Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và dữ liệu thứ cấp được thu thập từ hồ sơ kiểm toán, chứng từ của khách hàng tại năm tài chính 2022.
Qua bài nghiên cứu, tác giả đã đề cập các ưu và nhược điểm cho hai giai đoạn kiểm toán đầu. Đầu tiên, ở giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, tác giả cho rằng do hạn chế về thời gian và sức ép công việc nên việc đánh giá và tìm hiểu các hoạt động KSNB của công ty khách hàng chưa được chú trọng và vẫn phải dựa vào thông tin của năm trước đó. Cuối cùng, ở giai đoạn thực hiện kiểm toán, Công ty thực hiện qua phần mềm Excel của Microsoft mà chưa trang bị phần mềm kiểm toán riêng biệt nên không thể tránh khỏi những rủi ro phát hiện trong quá trình kiểm toán. Tuy nhiên, bài nghiên cứu trên chưa đề cập tới điểm yếu xuất phát từ giai đoạn kết thúc kiểm toán.
Bài luận văn của thạc sĩ Nguyễn Thùy Trang (2023) “Ảnh hưởng của công bố trách nhiệm xã hội đến mức độ “ổn định chi phí” trong biến động chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng (hồi quy FGLS) và dữ liệu thứ cấp là thông tin tài chính từ 356 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE và HNX trong giai đoạn từ 2020 – 2022. Kết quả nghiên cứu cho thấy công bố trách nhiệm xã hội làm tăng mức độ “ổn định chi phí” trong biến động chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2020 – 2022. Điều này nói lên rằng, những công ty công bố trách nhiệm xã hội thì sẽ khó khăn hơn trong việc điều chỉnh chi phí, thậm chí một số doanh nghiệp lựa chọn việc tăng chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp thay vì cắt giảm trong giai đoạn giảm doanh thu bán hàng để duy trì hoạt động.
Khoảng trống nghiên cứu 8 Đối với bài nghiên cứu từ tác giả Alwin (2003), Nguyễn Thị Võ Thảo (2021), Kim và các cộng sự (2022), Nguyễn Thùy Trang (2023) đều sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để thu thập dữ liệu thứ cấp, và vẫn có một số vấn đề mà các tác giả trên vẫn chưa làm rõ. Cụ thể, đối với Alwin, tác giả chưa đề cập tới CPBH mà chỉ nêu những thủ tục kiểm toán của CPQLDN. Với Nguyễn Thị Võ Thảo, chỉ nói đến tác động cùng chiều của CPBH đối với mức độ quản trị lợi nhuận và tác động ngược chiều của CPQLDN, chưa đề cập rõ mức độ ảnh hưởng lên cả BCTC. Với Kim và các công sự, nhóm tác giả chưa đề cập cụ thể nhiều yếu tố trong hệ thống KSNB.
Với Nguyễn Thùy Trang, chưa thực sự đưa ra được những ưu điểm trong quy trình kiểm toán và mối quan hệ của hệ thống KSNB cũng như các công bố trách nhiệm xã hội đối với kiểm toán CPBH và CPQLDN. Đối với bài nghiên cứu từ Deb và cộng sự (2020), Nguyễn Tuyết Nhung, Đoàn Thị Cẩm Duyên (2023), đều sử dụng phương pháp định tính để thu thập dữ liệu thứ cấp, và vẫn có nhiều vấn đề chưa được làm rõ. Cụ thể, với Deb và cộng sự, nhóm tác giả chỉ đề cập tới tổng chi phí của cả một doanh nghiệp, chưa thực sự cụ thể vào khoản mục CPBH và CPQLDN. Với Nguyễn Tuyết Nhung, thì dữ liệu sơ cấp được thu thập từ các KTV có trình độ, tuổi nghề khá trẻ mà không thu thập những ý kiến từ các KTV có trình độ kinh nghiệm lâu năm trong nghề.
Với Đoàn Thị Cẩm Duyên, tác giả chỉ đề cập nhược điểm của hai giai đoạn kiểm toán đầu mà chưa đề cập đến giai đoạn kết thúc kiểm toán. Đa số các bài nghiên cứu trên đều chưa đề cập cụ thể về yếu tố CNTT trong quy trình kiểm toán khoản mục CPBH và CPQLDN. Sau khi xác định được các khoảng trống tồn tại ở các nghiên cứu trước đó tại trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy rằng có rất ít bài nghiên cứu nào đề cập cụ thể về yếu tố tìm hiểu về môi trường CNTT của khách hàng tại Chi nhánh Công ty TNHH Kiểm toán Deloitte Việt Nam. Kế thừa được từ các nghiên cứu trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Kiểm toán khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp – Nghiên cứu trường hợp tại Chi nhánh Công ty TNHH Kiểm toán Deloitte Việt Nam” làm đề tài khóa luận cho mình.