Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam được ghi nhận là một trong những trung tâm đa dạng sinh học hàng đầu thế giới với 24 loài và phân loài linh trưởng, trong đó có 5 loài nằm trong danh sách 25 loài nguy cấp nhất toàn cầu. Tuy nhiên, trước các tác động tiêu cực từ việc suy thoái sinh cảnh và áp lực săn bắt trái phép, các quần thể linh trưởng tự nhiên đang đối mặt với nguy cơ suy giảm nghiêm trọng. Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa thuộc tỉnh Quảng Trị được thành lập theo Quyết định số 479/QĐ-UBND ngày 14/03/2007 với tổng diện tích 23.456,7 ha cùng vùng đệm rộng 4.034 ha, sở hữu hệ sinh thái rừng nhiệt đới phong phú nhưng trước đây chưa có công trình điều tra chuyên biệt nào về bộ Linh trưởng (Primates).

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thành phần loài, đặc điểm phân bố không gian theo các kiểu sinh cảnh, nhận diện mức độ đe dọa sinh thái và phân tích hiện trạng quản lý tại địa bàn. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại 5 xã gồm Hướng Lập, Hướng Việt, Hướng Phùng, Hướng Sơn và Hướng Linh trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 5 năm 2016. Kết quả nghiên cứu xác lập nguồn dữ liệu thực địa chuẩn xác về 8 loài linh trưởng quý hiếm, đóng góp cơ sở dữ liệu chiếm 33,33% tổng số loài linh trưởng của Việt Nam, cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho việc phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt và hoạch định chính sách bảo tồn tài nguyên thiên nhiên tại khu vực Trung Trường Sơn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống phân loại học động vật có xương sống hiện đại của Groves (2004) để định danh các đơn vị phân loại bộ Linh trưởng tại Việt Nam gồm 3 họ chính: họ Cu li (Lorisidae), họ Khỉ (Cercopithecidae) và họ Vượn (Hylobatidae). Đồng thời, đề tài tích hợp lý thuyết sinh thái học quần xã rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1978) để phân chia và đối chiếu các cấu trúc sinh cảnh đặc trưng.

Phương pháp đánh giá ma trận đe dọa sinh học áp dụng mô hình chuẩn hóa của Margoluis và Salafsky (2001), chấm điểm theo 3 tiêu chí cốt lõi: diện tích ảnh hưởng, cường độ tác động và tính cấp thiết. Khung phân tích này kết hợp chặt chẽ 5 khái niệm chuyên ngành then chốt: độ tàn che rừng, cấu trúc tầng tán sinh thái, tần suất bắt gặp tương đối, phân mảnh sinh cảnh và giá trị bảo tồn nguy cấp theo các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ sự kết hợp đồng bộ giữa phương pháp phỏng vấn xã hội học sinh thái và điều tra thực địa theo tuyến quan sát trực tiếp.

Cỡ mẫu xã hội học gồm 85 người dân địa phương và thợ săn giàu kinh nghiệm sinh sống tại các bản vùng đệm, nơi có đồng bào dân tộc Vân Kiều chiếm 78,3% dân số. Bộ công cụ khảo sát sử dụng bảng hỏi chuẩn hóa kết hợp bộ ảnh màu nhận diện loài nhằm loại bỏ hiện tượng nhầm lẫn tên địa phương.

Đối với điều tra thực địa, tác giả thiết lập 13 tuyến khảo sát và 2 điểm quan sát cố định với tổng chiều dài 36,73 km (trung bình 2,8 km/tuyến; tuyến dài nhất đạt 5,26 km và tuyến ngắn nhất là 1,19 km). Các tuyến được khảo sát lặp lại 2 đến 3 lần trong các khung giờ kiếm ăn đặc thù: ban ngày (6h00 - 17h00) đối với các loài khỉ, vượn, voọc và ban đêm (19h30 - 23h00) đối với giống cu li. Phương pháp chọn mẫu theo tuyến được lựa chọn vì tính tối ưu khi khảo sát các loài linh trưởng di chuyển nhanh trên tán rừng tại các đai độ cao phức tạp từ 500 m đến trên 1.000 m.

Toàn bộ dữ liệu tọa độ GPS, dấu vết ăn, phân và tiếng hót được xử lý bằng công thức tính tần suất bắt gặp $A = N / L$ theo hướng dẫn của dự án SPAM (2003). Bản đồ phân bố không gian và mức độ rủi ro được số hóa chuyên nghiệp trên phần mềm MapInfo kết hợp bảng biểu phân tích từ Microsoft Excel.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận 8 loài thú linh trưởng thuộc 3 họ đang sinh sống tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa, chiếm 33,33% tổng số loài linh trưởng hiện biết tại Việt Nam. Về cơ cấu phân loại, họ Khỉ chiếm ưu thế vượt trội với 5 loài (chiếm 62,5%), họ Cu li có 2 loài (chiếm 25,0%) và họ Vượn có 1 loài (chiếm 12,5%).

Đặc biệt, đợt điều tra thực địa đã quan sát và ghi nhận trực tiếp 5 loài ngoài tự nhiên gồm Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus), Khỉ vàng (Macaca mulatta), Khỉ đuôi lợn (Macaca leonina), Voọc Hà Tĩnh (Trachypithecus hatinhensis) và Vượn siki (Nomascus siki). Ba loài còn lại gồm Cu li lớn, Cu li nhỏ và Khỉ mặt đỏ được xác minh qua phỏng vấn chuyên sâu 85 nhân chứng địa phương và kế thừa hồ sơ khoa học.

Về mức độ phổ biến, loài Chà vá chân nâu có tần suất bắt gặp cao nhất, xuất hiện tại 8 trên tổng số 13 tuyến khảo sát, đạt giá trị đỉnh 1,36 lần/km tại tuyến số 9 (khu vực xã Hướng Lập). Tuyến khảo sát số 10 ghi nhận độ phong phú cao nhất với sự hiện diện đồng thời của 4 loài linh trưởng khác nhau trên chiều dài 1,19 km.

Về phân bố sinh cảnh, quần thể linh trưởng tập trung tại 3 dạng thảm thực vật chính:

  • Rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh núi đất (trung bình - giàu): Diện tích lớn nhất với 12.872,41 ha (chiếm 54,87% diện tích khu bảo tồn), độ tàn che đạt 0,7 - 0,8, là sinh cảnh ưa thích của Chà vá chân nâu và các loài khỉ với quy mô đàn từ 10 đến 30 cá thể.
  • Rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh núi đá vôi: Diện tích 1.848,73 ha (chiếm 7,88% diện tích), nơi ghi nhận loài đặc hữu Voọc Hà Tĩnh ở các vách đá hiểm trở giáp ranh tỉnh Quảng Bình và biên giới Việt - Lào.
  • Rừng phục hồi sau nương rẫy: Diện tích 8.735,56 ha (chiếm 37,24% diện tích), chủ yếu là nơi kiếm ăn vãng lai của Khỉ vàng và Khỉ mặt đỏ.

Thảo luận kết quả

Sự phân hóa không gian sống của khu hệ linh trưởng tại Bắc Hướng Hóa phản ánh rõ nét mối tương quan giữa đặc điểm sinh học và cấu trúc thảm thực vật. Các loài ăn lá như Voọc Hà Tĩnh ưu tiên sinh cảnh núi đá vôi do địa hình hiểm trở cung cấp nơi ngủ an toàn trong các hốc đá và nguồn thực vật chuyên biệt. Ngược lại, Chà vá chân nâu chiếm lĩnh sinh cảnh rừng núi đất tầng cao nhờ sự phong phú của các loài cây ưu thế như họ Dẻ (Fagaceae), họ Re (Lauraceae) và họ Ngọc lan (Magnoliaceae), đảm bảo nguồn quả và chồi non phong phú quanh năm.

Khi trực quan hóa dữ liệu trên biểu đồ không gian GIS và đồ thị cột tần suất bắt gặp, sự suy giảm số lượng cá thể bộc lộ rõ rệt tại các khu vực tiếp giáp nương rẫy bản địa. Tất cả 8 loài ghi nhận (100%) đều có giá trị bảo tồn tối cao: 100% loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 (4 loài EN, 3 loài VU), 100% loài thuộc các phụ lục I và II của CITES, và 7/8 loài (chiếm 87,5%) nằm trong danh mục loài nguy cấp theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.

Áp lực sinh thái lớn nhất xuất phát từ điều kiện kinh tế xã hội vùng đệm khi tỷ lệ hộ nghèo chiếm 23,06% và sản lượng lương thực bình quân chỉ đạt 175 kg/người/năm. Đời sống khó khăn cùng tập quán canh tác lạc hậu thúc đẩy người dân khai thác lâm sản và săn bắn động vật bằng súng tự chế hoặc súng thể thao. Giá trị thương mại của thịt linh trưởng dao động từ 400.000 đến 450.000 đồng/kg cùng nhu cầu nấu cao xương tạo áp lực săn bắt dai dẳng, đòi hỏi sự can thiệp đồng bộ từ công tác bảo vệ rừng đến hỗ trợ sinh kế bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Nghiên cứu đề xuất 5 nhóm giải pháp hành động chiến lược nhằm bảo tồn hiệu quả khu hệ thú linh trưởng:

  • Thiết lập vùng kiểm soát nghiêm ngặt 14.721,14 ha sinh cảnh cốt lõi: Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa chủ trì phối hợp cùng lực lượng Kiểm lâm tổ chức tuần tra định kỳ 100% diện tích rừng nguyên sinh núi đất và núi đá vôi, tập trung cao độ tại các điểm nóng như Suối Cha Ly, Khe Sa Lơ và Động Sa Mù trong giai đoạn 2016 - 2020.
  • Triệt phá mạng lưới săn bắt và thu hồi triệt để vũ khí: Lực lượng chức năng địa phương tăng cường kiểm tra, thu gom toàn bộ súng kíp, súng thể thao và tháo gỡ bẫy dây tại các xã Hướng Lập, Hướng Việt; đặt mục tiêu giảm thiểu 90% số vụ vi phạm săn bắt động vật hoang dã trong vòng 12 tháng.
  • Xây dựng chương trình giám sát đa dạng sinh học dài hạn: Ban quản lý Khu bảo tồn vận hành hệ thống 15 đến 20 trạm bẫy ảnh tự động kết hợp duy trì đánh giá tần suất bắt gặp trên 13 tuyến cố định theo chu kỳ 6 tháng một lần từ năm 2017 để theo dõi biến động quần thể Chà vá chân nâu và Voọc Hà Tĩnh.
  • Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế vùng đệm: Ủy ban nhân dân huyện Hướng Hóa lồng ghép các dự án phát triển nông thôn, hỗ trợ cây trồng công nghiệp có giá trị cao, hướng tới mục tiêu hạ tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 15% trong vòng 3 năm, giảm mức độ phụ thuộc vào tài nguyên rừng tự nhiên.
  • Triển khai chiến dịch truyền thông giáo dục môi trường: Tổ chức 20 lớp tập huấn tuyên truyền các quy định bảo vệ động vật hoang dã tại 42 thôn bản cho hơn 2.400 người dân trong 2 năm, thúc đẩy cộng đồng Vân Kiều tham gia ký cam kết bảo vệ đàn linh trưởng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia: Trực tiếp ứng dụng quy trình thiết kế 13 tuyến khảo sát thực địa và bản đồ số hóa GIS phục vụ việc phân khu bảo vệ sinh cảnh cho các loài linh trưởng nguy cấp tại khu vực miền Trung.
  • Các nhà nghiên cứu và học viên cao học ngành Lâm nghiệp, Sinh thái học: Khai thác kho tư liệu định lượng chuẩn xác về cấu trúc họ phân loại, công thức tính tần suất bắt gặp và phương pháp đánh giá ma trận đe dọa sinh học của Margoluis và Salafsky (2001).
  • Cơ quan Kiểm lâm và các nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh: Căn cứ vào các số liệu thực tế về 8 loài thuộc Sách Đỏ và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP để xây dựng kế hoạch hành động khẩn cấp về bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Quảng Trị.
  • Các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế (IUCN, BirdLife, WWF): Sử dụng kết quả phát hiện về quần thể Voọc Hà Tĩnh và Chà vá chân nâu làm cơ sở khoa học để phê duyệt và cấp vốn tài trợ cho các dự án bảo tồn liên biên giới Việt - Lào.

Câu hỏi thường gặp

Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa hiện ghi nhận bao nhiêu loài linh trưởng sinh sống? Nghiên cứu đã xác định 8 loài thú linh trưởng thuộc 3 họ, chiếm 33,33% tổng số loài linh trưởng toàn quốc. Trong đó có 5 loài được quan sát trực tiếp ngoài tự nhiên gồm Chà vá chân nâu, Khỉ vàng, Khỉ đuôi lợn, Voọc Hà Tĩnh và Vượn siki.

Loài linh trưởng nào có tần suất xuất hiện cao nhất trong các đợt điều tra thực địa? Chà vá chân nâu là loài xuất hiện phổ biến nhất trên 8/13 tuyến khảo sát với quy mô đàn từ 10 đến 30 cá thể, đạt tần suất bắt gặp cao nhất là 1,36 lần/km tại tuyến số 9 nhờ diện tích rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh chiếm tới 54,87%.

Những mối đe dọa trực tiếp lớn nhất đến khu hệ linh trưởng tại khu vực là gì? Hai áp lực hàng đầu là nạn săn bắn trộm bằng súng thể thao, bẫy bắt khi giá thịt linh trưởng đạt 400.000 đến 450.000 đồng/kg, kết hợp việc khai thác gỗ quý và đốt nương rẫy bắt nguồn từ tỷ lệ hộ nghèo vùng đệm còn ở mức 23,06%.

Đặc điểm phân bố sinh cảnh của loài Voọc Hà Tĩnh tại Bắc Hướng Hóa như thế nào? Voọc Hà Tĩnh phân bố độc bản và gắn liền với sinh cảnh rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh trên núi đá vôi có diện tích 1.848,73 ha, tập trung tại các vách đá cheo leo ở xã Hướng Lập giáp ranh địa phận tỉnh Quảng Bình và nước bạn Lào.

Nghiên cứu áp dụng quy mô mẫu và phương pháp điều tra nào để đảm bảo tính chuẩn xác? Tác giả đã phỏng vấn chuẩn hóa 85 người dân bản địa, thiết lập 13 tuyến khảo sát với tổng chiều dài 36,73 km, lặp lại điều tra 2 đến 3 lần kết hợp định vị vệ tinh GPS và xử lý dữ liệu chuyên sâu bằng phần mềm bản đồ MapInfo.

Kết luận

  • Ghi nhận đầy đủ 8 loài linh trưởng thuộc 3 họ tại Bắc Hướng Hóa, đóng góp 33,33% tổng số loài linh trưởng của Việt Nam.
  • Khẳng định 100% số loài đều có giá trị bảo tồn nguy cấp, trong đó 4 loài thuộc nhóm IB theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP và 4 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam cấp EN.
  • Xác định sinh cảnh rừng núi đất (12.872,41 ha) và rừng núi đá (1.848,73 ha) là hai khu vực trọng yếu duy trì sự sinh tồn của Chà vá chân nâu và Voọc Hà Tĩnh.
  • Phân tích nguyên nhân đe dọa chính từ nạn săn bắn trái phép gắn liền với áp lực sinh kế của 23,06% hộ nghèo vùng đệm.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện kết hợp giữa tuần tra bảo vệ rừng nghiêm ngặt, giám sát bẫy ảnh tự động và nâng cao kinh tế xã hội địa phương.

Luận văn đã lấp đầy khoảng trống khoa học về khu hệ thú linh trưởng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa, cung cấp hệ thống số liệu thực địa tin cậy cho công tác quản lý tài nguyên. Để tiếp nối kết quả này, các cơ quan chức năng cần triển khai ngay dự án đặt bẫy ảnh tự động và đánh giá kích thước quần thể Chà vá chân nâu trong vòng 24 tháng tới, chung tay bảo vệ bền vững di sản thiên nhiên quý giá của dãy Trường Sơn.