Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hiện trạng và phân bố của các loài mang muntiacus spp tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên tỉnh thanh hóa

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hiện trạng và phân bố các loài mang Muntiacus spp tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

133
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nghiên Cứu Phân Bố Các Loài Mang Muntiacus spp

Nghiên cứu về Muntiacus spp. tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Xuân Liên, Thanh Hóa, là một chủ đề quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học. Khu vực này không chỉ có giá trị sinh thái mà còn là nơi sinh sống của nhiều loài động vật hoang dã, trong đó có các loài Mang. Việc hiểu rõ về phân bố và tình trạng của chúng là cần thiết để đưa ra các biện pháp bảo tồn hiệu quả.

1.1. Đặc điểm sinh học của các loài Mang Muntiacus spp.

Các loài Mang thuộc họ Hươu nai, có kích thước nhỏ và đặc điểm sinh học đa dạng. Chúng thường sống trong các khu rừng rậm và có chế độ ăn chủ yếu là thực vật. Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học giúp hiểu rõ hơn về nhu cầu sinh thái của chúng.

1.2. Tình trạng bảo tồn của các loài Mang tại Xuân Liên

Tình trạng bảo tồn của các loài Mang tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Xuân Liên đang gặp nhiều thách thức. Nhiều loài trong số này đã được ghi nhận trong Sách đỏ Việt Nam và IUCN, cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp bảo tồn kịp thời.

II. Vấn đề và Thách thức trong Bảo Tồn Các Loài Mang

Các loài Mang tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Xuân Liên đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Sự suy giảm môi trường sống do khai thác gỗ trái phép và săn bắn là những vấn đề nghiêm trọng. Việc nhận diện và phân tích các mối đe dọa này là rất quan trọng để bảo tồn các loài này.

2.1. Mối đe dọa từ hoạt động khai thác gỗ

Khai thác gỗ trái phép đã làm giảm diện tích rừng, ảnh hưởng đến môi trường sống của các loài Mang. Việc này không chỉ làm giảm số lượng cá thể mà còn làm mất đi các nguồn thức ăn tự nhiên của chúng.

2.2. Tác động của săn bắn động vật hoang dã

Săn bắn động vật hoang dã là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm quần thể Mang. Các hoạt động này không chỉ đe dọa sự tồn tại của chúng mà còn làm mất cân bằng sinh thái trong khu vực.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Phân Bố Các Loài Mang Tại Xuân Liên

Để nghiên cứu phân bố của các loài Mang, nhiều phương pháp đã được áp dụng. Các phương pháp này bao gồm điều tra hiện trường, phỏng vấn người dân địa phương và sử dụng bẫy ảnh. Những phương pháp này giúp thu thập dữ liệu chính xác về số lượng và phân bố của các loài Mang.

3.1. Phương pháp điều tra hiện trường

Điều tra hiện trường là phương pháp quan trọng để xác định sự hiện diện của các loài Mang. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành khảo sát tại nhiều khu vực khác nhau trong Khu Bảo Tồn để thu thập thông tin.

3.2. Sử dụng bẫy ảnh trong nghiên cứu

Bẫy ảnh là một công cụ hiệu quả để ghi lại hình ảnh của các loài Mang trong môi trường tự nhiên. Phương pháp này giúp theo dõi hoạt động và số lượng của chúng mà không làm ảnh hưởng đến sinh cảnh sống.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu và Ứng Dụng Thực Tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phân bố của các loài Mang tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Xuân Liên rất đa dạng. Các dữ liệu thu thập được sẽ là cơ sở để xây dựng các chương trình bảo tồn hiệu quả, nhằm bảo vệ các loài này khỏi nguy cơ tuyệt chủng.

4.1. Phân bố và số lượng các loài Mang

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có ít nhất ba loài Mang hiện diện tại khu vực này, với số lượng cá thể khác nhau. Việc ghi nhận số lượng cụ thể sẽ giúp đánh giá tình trạng bảo tồn của chúng.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào bảo tồn

Kết quả nghiên cứu sẽ được sử dụng để phát triển các chương trình bảo tồn, bao gồm việc nâng cao nhận thức cộng đồng và thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường sống cho các loài Mang.

V. Kết Luận và Hướng Đi Tương Lai cho Nghiên Cứu

Nghiên cứu về phân bố các loài Mang tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Xuân Liên đã chỉ ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Để bảo tồn hiệu quả, cần có sự hợp tác giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng địa phương. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc bảo vệ môi trường sống và nâng cao nhận thức về giá trị của các loài Mang.

5.1. Tầm quan trọng của bảo tồn đa dạng sinh học

Bảo tồn đa dạng sinh học không chỉ có lợi cho các loài Mang mà còn cho toàn bộ hệ sinh thái. Việc duy trì sự đa dạng này là cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững.

5.2. Đề xuất các giải pháp bảo tồn lâu dài

Các giải pháp bảo tồn cần được xây dựng dựa trên dữ liệu nghiên cứu. Cần có các chương trình giáo dục cộng đồng và các chính sách bảo vệ môi trường hiệu quả để bảo tồn các loài Mang.

30/06/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hiện trạng và phân bố của các loài mang muntiacus spp tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên tỉnh thanh hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 T N QU N VẤN ĐỀ N H N C U6 1. Tình hình nghiên cứu Thú móng guốc trên Thế giới. Đặc điểm và hệ thống phân loại bộ móng guốc chẵn (Artiodactyla) Nhiều tác giả (Đặng Huy Huỳnh 1986 [22] Lekagul et al. 1988 [53], Hutchins et al.

2004 [51], Đặng Huy Huỳnh và cs. 2009 [26], Nguyễn Xuân Đặng và cs. 2009 [13], Đặng Huy Huỳnh và cs. 2008 [28]), thú MGC gồm các loài thú có kích thước cơ thể từ rất lớn tới trung bình.

Lớn nhất là Hà mã (Hippopotamus amphibius) nặng tới 4.500 kg và nhỏ nhất là Cheo cheo lưng bạc (Tragulus versicolor) nặng khoảng 1,5 - 2,5 kg. Các chân đều mang số ngón chẵn (2 hoặc 4 ngón) và có guốc. Thú MGC đi bằng đầu ngón chân thứ III và thứ IV nên các ngón này rất lớn và có kích thước gần bằng nhau. Ngón thứ nhất đã bị tiêu biến, ngón thứ II và thứ V bị tiêu giảm về kích thước.

Chỉ ở một số loài (họ Lợn Suidae) cả 4 ngón đều hoạt động, còn ở hầu hết các loài khác chỉ có 2 ngón (thứ III và IV) hoạt động, 2 ngón khác nhỏ và hầu như không chạm đất, trừ khi đất quá xốp. Thú MGC được chia thành 2 nhóm: nhóm có sừng và nhóm không có sừng. Nhóm không có sừng gồm các loài thuộc họ Cheo cheo (Tragulidae), họ Lợn (Suidae), họ Lợn Taya (Tayassuidae) và họ Hươu xạ (Moschidae). Các loài này có răng nanh phát triển dài để thực hiện chức năng bảo vệ thay cho sừng.

Nhóm có sừng bao gồm các họ còn lại. Tuy nhiên, kích thước và nguồn gốc sừng có khác nhau. Sừng của các loài họ Hươu nai (Cervidae) đặc và rụng hàng năm sau mỗi mùa động dục (còn gọi là gạc). Sừng của các loài họ Trâu bò (Bovidae) rỗng trong và không rụng, phát triển liên tục suốt đời.

Chức năng chủ yếu của sừng và răng nanh là làm vũ khí đấu tranh trong loài (tranh giành vị trí đầu đàn, tranh giành thú cái trong mùa động dục,.), sau đó mới đến chức năng chống lại thú ăn thịt hoặc các loài khác (Hutchins et al. Các cá thể đực thường 4 có sừng hoặc răng nanh lớn hơn so với cá thể cái. Tùy loài, các cá thể cái có thể có sừng như ở họ Trâu bò hoặc không có sừng như ở họ Hươu nai. Bộ răng thích nghi với chế độ ăn của mỗi nhóm loài.

Lợn rừng có răng nanh trên rất dài, thò ra khỏi môi và mặt răng hàm có nhiều u, mấu nhỏ. Các loài nhai lại không có răng nanh trên, mặt răng hàm có nhiều gờ nhai sắc hình lưỡi liềm. Số lượng răng từ 32 - 44 chiếc. Tất cả các loài trong các họ Tragulidae, Moschidae, Cervidae và Bovidae đều không có răng cửa hàm trên.

Công thức răng: (i 0–3/3, c 0–1/1, pm 2–4/2–4, m 3/3) x 2 = 30–44. Thú MGC ăn thực vật và có dạ dày thích nghi với việc tiêu hóa chất xenluloza thực vật. Dạ dày được cấu tạo có 1 đến 3 ngăn, dạ dày giả nằm phía trước dạ dày thật (abomasum). Họ Lợn (Suidae) ăn tạp, dạ dày ít chuyên hoá, chỉ có 2 ngăn.

Các họ khác có dạ dày phức và ruột tịt nhỏ. Họ Cheo cheo (Traguliadae) có dạ dày 3 ngăn, các họ khác có dạ dày 4 ngăn. Trong dạ dày có hệ sinh vật và ký sinh trùng cộng sinh phong phú giúp phân hủy xeluloza. Đa số các loài có đặc điểm nhai lại thức ăn (Đặng Huy Huỳnh và cs, 1986 [22] và Lekagul B.

Theo Wilson và cộng sự (Wilson et al. 2005) [63], bộ móng guốc chẵn (Artiodactyla) có khoảng 240 loài thuộc 89 giống và 10 họ (Bảng 1.1: Thành phần loài bộ M C (Artiodactyla) trên thế giới TT Họ Số giống Số loài 1 Họ Lợn - Suidae 5 19 2 Họ Lợn Taya - Tayassuidae 3 3 3 Họ Hà mã - Hippopotamidae 2 2 4 Họ Lạc đà - Camelidae 3 4 5 Họ Cheo cheo - Tragulidae 3 8 6 Họ Hươu xạ - Moschidae 1 7 7 Họ Hươu nai - Cervidae 19 51 5 8 Họ Linh dương - Antilocapridae 1 1 9 Họ Hươu cao cổ - Giraffidae 2 2 10 Họ Trâu bò - Bovidae 50 143 Tổng 89 240 Một số tác giả (Simpson 1945, Mckenna et al 1997, Janis and Scott 1987, trong Lekagul et al. 1988) [53] chia bộ MGC thành 3 phân bộ: - Phân bộ Không nhai lại (Non-ruminantia) hoặc Phân bộ Lợn (Suina): Răng hàm có mấu, răng nanh lớn sinh trưởng liên tục, dạ dày đơn, ngón II và ngón V phát trển. Phân bộ này có 3 họ là họ Lợn (Suidae), Hà mã (Hippopotamidae) và họ Lợn Taia (Tayassuidae).

- Phân bộ Nhai lại (Ruminantia): Răng hàm có nếp sắc hình bán nguyệt, thiếu răng cửa và thường thiếu cả răng nanh. Dạ dày phức tạp chia 4 ngăn. Phân bộ này có 05 họ: họ Hươu nai (Cervidae), họ Hươu cao cổ (Giraffidae), họ Trâu bò (Bovidae), họ Cheo cheo (Tragulidae) và họ Linh dương (Antilocapridae). - Phân bộ Chân chai (Tylopoda): gồm các loài Lạc đà.

Thiếu răng nanh và răng cửa ở cả hai hàm, răng hàm có mặt nhai phẳng, dạ dày tương đối phức tạp. Ngón I, II và V thiếu. Chỉ có 1 họ Lạc đà (Camelidae) phân bố ở sa mạc Trung Á. Ba họ có số loài lớn nhất là: họ Trâu bò với 143 loài, họ Hươu nai với 51 loài và họ Lợn với 19 loài.

Các họ còn lại đều có dưới 10 loài. Wilson et al. Tình trạng bảo tồn của thú M C trên thế giới Các loài thú MGC có phân bố rộng trên thế giới. Chúng là loài bản địa ở tất cả các châu lục trừ châu Nam Cực, châu Úc và các đảo đại dương.

Ngày 6 nay, do con người du nhập và thuần hóa nên các loài thú MGC có mặt cả ở nhiều đảo xa bờ không thuộc vùng phân bố tự nhiên của chúng (Hutchins et al. Tuy nhiên, do sự suy thoái sinh cảnh và săn bắt quá mức của con người, các loài thú MGC trên thế giới hiện nay đã bị suy giảm đáng kể cả về phạm vi phân bố và số lượng cá thể. Danh lục Đỏ IUCN (2015) [49] đã thống kê có 8 loài thú MGC đã bị tuyệt chủng và 122 loài khác (chiếm 54,6% tổng số loài hiện biết) đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau (Bảng 1.2): 11 loài ở mức "rất nguy cấp - CR", 40 loài ở mức "nguy cấp - EN", 33 loài ở mức "sẽ nguy cấp - VU", 20 loài ở mức "gần bị đe dọa – LR, nt" và 18 loài ở mức "thiếu dữ liệu - DD".2: Số lượng các loài thú M C bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu. Bậc đe dọa theo Danh lục Đỏ UCN* Tổng Tỷ lệ TT Họ EX EW CR EN VU LR,nt DD cộng (%) 1 Suidae 1 3 5 1 1 11 57,9 2 Tayassuidae 1 1 2 66,7 3 Hippopotamidae 1 1 2 100 4 Camelidae 1 1 25 5 Tragulidae 1 3 4 50,0 6 Moschidae 6 1 7 100 7 Cervidae 1 1 1 7 16 2 10 38 74,5 8 Antilocapridae 0 0 9 Giraffidae 1 1 50,0 10 Bovidae 4 1 8 20 19 17 4 73 51,0 Tổng cộng 6 2 11 40 33 20 18 131 54,6 Ghi chú: EX - tuyệt chủng, EW - tuyệt chủng trong thiên nhiên, CR - rất nguy cấp, EN - nguy cấp, VU - Sẽ nguy cấp, RL, nt - gần bị đe dọa, DD - thiếu dữ liệu.

*Nguồn: Danh lục Đỏ IUCN 2015. 7 Như vậy, có đến 54,6% tổng số loài thú MGC hiện biết đã tuyệt chủng hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu. Trừ họ Linh dương (Atilocapridae), tất cả các họ thú MGC đều có tỷ lệ phần trăm số loài bị đe dọa tuyệt chủng cao, từ 25% (Camelidae) đến 50-60% (Tragulidae, Girafidae, Bovidae, Suidae), 60 - 75% (Tayassuidae, Cervidae) và 100% (Hippopotamidae, Moschidae). Các họ có số loài bị đe dọa nhiều nhất là: Bovidae (73 loài), Cervidae (38 loài) và Suidae (11 loài).

Nghiên cứu về giống Mang trên Thế giới. Mang thuộc giống Muntiacus thuộc họ Hươu nai (Cervidae) là 1 trong 5 họ của Bộ Móng guốc chẵn (Artiodactyla) (Nguyễn Xuân Đặng và cs. Trên Thế giới đã ghi nhận giống Mang (Muntiacus) bao gồm 13 loài có vùng phân bố rộng từ Ấn Độ đến Inđônêsia [64]. Những loài thú có kính thước từ nhỏ đến trung bình này có nhiều đặc điểm khác biệt về kích thước, mầu sắc và kiều sừng giữa các loài.

Loài có kích thước lớn nhất là loài Mang lớn (M. Vuquangensis) có trọng lượng khoảng 30-50 kg trong khi loài Mang Putao (M. Putaoensis) chỉ nặng khoảng 12kg [31]. Giữa các loài Mang còn có sự khác biệt rất lớn về số lượng các nhiễm sắc thể, chẳng hạn như Mang Reeves (M.

reevesi) có 46 nhiễm sắc thể trong khi đó Hoẵng vó vàng (M. vaginalis) chỉ có 6 nhiễm sắc thể [33] [34]. Trong những năm gần đây số lượng loài của nhóm này đã tăng lên đáng kể do có nhiều điều tra và phát hiện mới ở vùng Đông Nam Á. Cụ thể là ở Việt Nam, trong vòng 15 năm trở lại đây, bốn loài Mang đã được tìm thấy ở Việt Nam hoặc dưới dạng loài mới hoặc được xác nhận là có ở trong nước [30] [24] [29].

Tất cả những loài này đều được phát hiện tại các khu rừng thường xanh vùng núi của dãy Trường Sơn [28] [31]. Những phát hiện này cùng với những thông tin trước đó về các loài đặc hữu của khu vực này, trong đó có chim, linh trưởng và cây lá kim cho thấy dãy Trường Sơn, một khu vực rất đáng quan tâm đối với bảo tồn và đã được đưa vào danh sách 200 khu hệ 8 sinh thái quan trọng nhất thế giới của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Thế giới WWF, có thể là nơi cư trú cho nhiều loài đặc hữu [50]. Ở khắp các vùng có mang phân bố, các nghiên cứu về nhóm động vật này được thực hiện tương đối đầy đủ và chi tiết bao gồm cả nghiên cứu về phân loại học, di truyền, phân bố và sinh học sinh thái. Tuy nhiên ở rất ít nghiên cứu được thực hiện ở khu vực Đông dương, các nghiên cứu chỉ thực hiện tập trung trong các năm 1990 đến 1999 và gần như bị bỏ quên từ đó cho đến nay [14].

Tình hình nghiên cứu về thú M C ở Việt Nam. Nghiên cứu thú MGC ở Việt Nam được bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 cùng với lịch sử nghiên cứu thú (Mammalia) của Việt Nam (Đặng Huy Huỳnh và cs. Trước năm 1955, chỉ có các cuộc khảo sát của các nhà nghiên cứu nước ngoài nhằm phát hiện và mô tả các loài thú ở Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Phân Bố Các Loài Mang (Muntiacus spp.) Tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Xuân Liên, Thanh Hóa" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phân bố và tình trạng của các loài mang trong khu bảo tồn này. Nghiên cứu không chỉ giúp xác định các loài mang hiện có mà còn đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường sống của chúng. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và quản lý bền vững các loài động vật hoang dã, đồng thời nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của đa dạng sinh học.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các nghiên cứu liên quan đến động vật hoang dã và bảo tồn, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Nghiên cứu tính đa dạng các loài dơi mammalia chiroptera ở khu dự trữ sinh quyển cù lao chàm hội an, nơi khám phá sự đa dạng của các loài dơi trong một khu vực bảo tồn khác. Bên cạnh đó, tài liệu Nghiên cứu về tình trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn loài voi châu á elephas maximus linnaeus 1758 tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh voi nông sơn quảng nam cũng sẽ cung cấp thông tin quý giá về các biện pháp bảo tồn động vật lớn. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ công tác bảo tồn hệ động vật tại khu bảo tồn thiên nhiên hữu liên tỉnh lạng sơn, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chiến lược bảo tồn động vật trong các khu bảo tồn thiên nhiên. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về bảo tồn động vật hoang dã tại Việt Nam.