Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), khoảng 54,6% trong tổng số 240 loài thú móng guốc chẵn trên thế giới đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do suy thoái sinh cảnh và nạn săn bắt trái phép. Tại Việt Nam, chi Mang (Muntiacus) thuộc họ Hươu nai (Cervidae) đã ghi nhận 4 loài, trong đó có tới 3 loài đặc hữu quý hiếm gồm Mang lớn (Muntiacus vuquangensis), Mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis) và Mang Pù Hoạt (Muntiacus puhoatensis). Mặc dù là trung tâm đa dạng sinh học cao, thực trạng suy giảm quần thể thú móng guốc tại nước ta đang ở mức báo động khi 14 trên tổng số 19 loài hiện diện đã phải đưa vào Sách Đỏ Việt Nam.

Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa sở hữu diện tích rừng tự nhiên rộng lớn với 23.815,5 ha rừng đặc dụng, nằm trong vùng sinh thái chuyển tiếp giữa Tây Bắc và Bắc Trung Bộ. Nơi đây lưu giữ hệ sinh thái phong phú với 952 loài thực vật bậc cao có mạch và 388 loài động vật rừng có xương sống. Tuy nhiên, vùng đệm của khu bảo tồn có tới 26.095 nhân khẩu phân bố tại 5 xã lân cận, trong đó đồng bào dân tộc Thái chiếm tỷ lệ 82% với đời sống còn nhiều khó khăn và phong tục canh tác phụ thuộc nhiều vào rừng.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng thực hiện từ tháng 10/2016 đến tháng 4/2017 nhằm giải quyết sự thiếu hụt nghiêm trọng về các dữ liệu khoa học định lượng. Nghiên cứu tập trung đánh giá hiện trạng thành phần loài, lập bản đồ vùng phân bố sinh cảnh và xác định thứ tự ưu tiên các mối đe dọa tác động lên giống Mang. Kết quả thu được là căn cứ thực nghiệm then chốt giúp xây dựng chiến lược quản lý rừng bền vững và bảo tồn nguồn gen thú móng guốc quý hiếm tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết sinh thái học quần thể động vật rừng, lý thuyết phân loại học thú móng guốc chẵn (Artiodactyla) và các nguyên lý bảo tồn sinh cảnh nhiệt đới. Mô hình nghiên cứu tích hợp giữa điều tra thực địa sinh thái học và phân tích xã hội học nông thôn, tập trung vào 4 khái niệm cốt lõi:

  1. Chi Mang (Muntiacus): Nhóm thú móng guốc cỡ nhỏ và trung bình (trọng lượng từ 12 kg đến 50 kg), có tuyến lệ phát triển sâu, con đực mang sừng ngắn rụng hàng năm và răng nanh hàm trên mọc dài.
  2. Sinh cảnh sống và cấu trúc rừng: Môi trường tự nhiên gồm rừng kín thường xanh núi thấp dưới 800 m và rừng á nhiệt đới núi trung bình trên 800 m cung cấp nguồn thức ăn, nơi trú ẩn cho động vật hoang dã.
  3. Bảo tồn nguyên vị (In-situ conservation): Phương thức bảo tồn các loài động thực vật hoang dã trực tiếp ngay trong quần xã sinh thái tự nhiên của chúng.
  4. Bảo tồn chuyển vị (Ex-situ conservation): Hoạt động bảo tồn các cá thể hoặc nguồn gen bên ngoài môi trường sống tự nhiên nhằm nhân nuôi, cứu hộ và tái thả.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình tích hợp đa phương pháp hiện đại trong khoảng thời gian 7 tháng (từ tháng 10/2016 đến tháng 4/2017) với các thông số cụ thể:

  • Phương pháp điều tra xã hội học: Cỡ mẫu phỏng vấn gồm 373 người (bao gồm 4 cán bộ kỹ thuật khu bảo tồn, 14 kiểm lâm viên địa bàn và 355 người dân bản địa, già làng, thợ săn có kinh nghiệm tại 12 thôn thuộc 5 xã vùng đệm). Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được lựa chọn nhằm khai thác tri thức bản địa chuẩn xác về lịch sử phân bố và dấu hiệu bắt gặp loài.
  • Phương pháp điều tra theo tuyến và điểm: Thiết lập 15 tuyến khảo sát thực địa với tổng chiều dài mỗi tuyến từ 2,5 km đến 3,5 km trải rộng qua các đai cao và dạng sinh cảnh rừng khác nhau. Tốc độ di chuyển duy trì từ 1,5 km/giờ đến 2,5 km/giờ để ghi nhận trực tiếp cá thể và thu thập các dấu hiệu gián tiếp như dấu chân, vết ăn, phân và mẫu sừng.
  • Phương pháp bẫy ảnh tự động: Sử dụng đồng loạt từ 10 đến 15 máy bẫy ảnh cảm ứng nhiệt kỹ thuật số hồng ngoại (model Stealth Cam STC-AC540IR) đặt liên tục từ 10 đến 15 ngày mỗi đợt trong các ô tiêu chuẩn diện tích khoảng 10 km2 tại các khu vực đường mòn, bãi khoáng và khe suối.
  • Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu: Toàn bộ tọa độ ghi nhận được định vị bằng máy GPS theo hệ quy chiếu VN2000. Dữ liệu định lượng được tổng hợp qua phần mềm Microsoft Excel và kiểm định thống kê sự sai khác sinh cảnh bằng phần mềm SPSS. Lý do lựa chọn hệ thống công cụ này nhằm đảm bảo tính chuẩn hóa dữ liệu không gian và loại bỏ các sai số chủ quan trong phân tích mật độ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Thành phần loài và sự hiện diện của Mang Pù Hoạt: Nghiên cứu khẳng định sự có mặt của 2 loài thuộc chi Mang tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên gồm Mang thường (Muntiacus muntjak) và Mang Pù Hoạt (Muntiacus puhoatensis). Bẫy ảnh hồng ngoại đã chụp lại được hình ảnh sống động của cả cá thể đực và cái loài Mang Pù Hoạt tại khu vực Bản Vịn và Pù Xai Nậm Mua, xua tan những nghi vấn trước đây về sự phân bố của loài Mang quý hiếm này tại Thanh Hóa.
  2. Đặc điểm phân bố theo sinh cảnh: Quần thể Mang phân bố tập trung nhiều nhất ở 2 kiểu thảm thực vật chính: kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới dưới 800 m (chiếm diện tích 2.801,33 ha, tương đương 11,95% diện tích khu bảo tồn) và kiểu rừng kín thường xanh á nhiệt đới trên núi trung bình trên 800 m (chiếm diện tích 1.753,89 ha, tương đương 7,48%). Tỷ lệ bắt gặp dấu vết hoạt động ở rừng tự nhiên ít bị tác động đạt trên 68%, cao hơn gấp 3 lần so với sinh cảnh rừng phục hồi sau nương rẫy.
  3. Nhận diện và định lượng các mối đe dọa: Đã xác định 8 nhóm nguyên nhân chính gây tổn hại quần thể loài. Trong đó, nạn đặt bẫy săn bắt động vật hoang dã và khai thác gỗ trái phép được xếp ở mức độ nguy hại cao nhất, chiếm tới hơn 72% tổng số ghi nhận tác động tiêu cực của con người vào vùng lõi rừng đặc dụng.

Thảo luận kết quả

Việc ghi nhận mẫu vật sọ và hình ảnh bẫy ảnh của Mang Pù Hoạt tại Xuân Liên mang ý nghĩa sinh học vô cùng to lớn đối với khoa học bảo tồn. Kết quả này chứng minh dải rừng tự nhiên tại Xuân Liên với hơn 22.207 ha rừng tự nhiên còn duy trì được tính toàn vẹn cao, đóng vai trò là hành lang sinh thái liên kết vùng sinh cảnh Pù Hoạt (Nghệ An) sang tỉnh Hủa Phăn (Lào). Nguồn thức ăn tại đây rất phong phú khi có tới hơn 100 loài thực vật làm thức ăn cho thú móng guốc, trong đó quả cây và lá cỏ chiếm từ 70% đến 90% khẩu phần ăn hàng ngày của loài.

Để minh họa trực quan các kết quả phân tích, dữ liệu nghiên cứu có thể được trình bày thông qua biểu đồ cột thể hiện tương quan số lần ghi nhận cá thể theo từng đai độ cao và bảng ma trận xếp hạng mức độ nghiêm trọng của các mối đe dọa sinh cảnh. So với các nghiên cứu ở giai đoạn 1998-2004, mật độ dấu vết của giống Mang đang có xu hướng co cụm về các vùng đồi núi dốc hiểm trở như Bù Ta Leo (1.208 m) và đỉnh 1.605 m do chịu sức ép từ 26.095 cư dân vùng đệm và tình trạng phân mảnh sinh cảnh do làm đường giao thông.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Tăng cường thực thi bảo tồn nguyên vị: Thiết lập các chốt bảo vệ cố định và tuần tra nghiêm ngặt tại 4.555,22 ha sinh cảnh rừng kín thường xanh núi thấp và núi trung bình; tiến hành tháo gỡ triệt để 100% các loại bẫy thú trái phép tại các tiểu khu trọng điểm trước năm 2020 do lực lượng Kiểm lâm phối hợp với Ban quản lý Khu bảo tồn trực tiếp thực hiện.
  2. Thiết lập chương trình bảo tồn chuyển vị: Xây dựng khu cứu hộ bán hoang dã quy mô khoảng 5 ha tại trạm kiểm lâm Bản Vịn nhằm chăm sóc, nuôi dưỡng các cá thể Mang bị thương do bẫy bắt và bảo tồn nguồn gen thuần chủng Mang Pù Hoạt giai đoạn 2018-2023 dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia động vật học.
  3. Phát triển sinh kế bền vững vùng đệm: Ủy ban nhân dân huyện Thường Xuân phối hợp với Ban quản lý dự án triển khai mô hình canh tác nông lâm kết hợp, hỗ trợ vốn vay phát triển chăn nuôi có kiểm soát cho 26.095 nhân khẩu tại 5 xã vùng đệm, đặt mục tiêu giảm thiểu 50% số hộ gia đình vào rừng khai thác lâm sản trái phép đến năm 2025.
  4. Hoàn thiện cơ chế chính sách và truyền thông: Tổ chức tối thiểu 20 hội nghị tuyên truyền cộng đồng mỗi năm tại 12 thôn bản; lồng ghép giao khoán bảo vệ rừng gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng; duy trì hệ thống bẫy ảnh tự động giám sát đa dạng sinh học định kỳ 6 tháng một lần trên toàn lâm phần.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia: Vận dụng trọn bộ quy trình điều tra bẫy ảnh tự động và phương pháp phân vùng sinh cảnh trên diện tích 23.815,5 ha để tối ưu hóa công tác tuần tra bảo vệ thú móng guốc nguy cấp.
  • Chi cục Kiểm lâm và cơ quan hoạch định chính sách lâm nghiệp: Khai thác bộ 373 dữ liệu phỏng vấn thực nghiệm làm căn cứ pháp lý xử lý vi phạm săn bắt và xây dựng hành lang sinh thái liên tỉnh bảo vệ động vật hoang dã.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng: Tham khảo phương pháp luận thiết lập 15 tuyến điều tra thực địa kết hợp xử lý số liệu trên SPSS để phục vụ công tác giảng dạy và thực hiện các đề tài nghiên cứu chuyên sâu.
  • Các tổ chức bảo tồn đa dạng sinh học quốc tế và trong nước: Sử dụng các chỉ số định lượng về áp lực đe dọa sinh thái để tài trợ các chương trình bảo tồn loài đặc hữu và hỗ trợ dự án sinh kế cộng đồng vùng đệm.

Câu hỏi thường gặp

  1. Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên ghi nhận chính xác những loài Mang nào? Nghiên cứu thực địa đã khẳng định sự hiện diện của 2 loài là Mang thường (Muntiacus muntjak) và Mang Pù Hoạt (Muntiacus puhoatensis). Trong đó, Mang Pù Hoạt là loài đặc hữu vùng Bắc Trường Sơn với kích thước nhỏ gọn (trọng lượng từ 14 kg đến 20 kg) và có giá trị nguồn gen vô cùng quý hiếm trong danh lục bảo tồn.

  2. Phương pháp bẫy ảnh cảm ứng nhiệt được triển khai thực tế như thế nào? Nhóm nghiên cứu sử dụng 10 đến 15 máy bẫy ảnh Stealth Cam STC-AC540IR, lắp đặt vuông góc với thân cây ở độ cao tương xứng với tầm vóc thú móng guốc tại các đường mòn và khe nước, duy trì chụp ảnh tự động 24/24 giờ liên tục trong chu kỳ 10 đến 15 ngày mỗi đợt.

  3. Mối đe dọa nào đang tác động nặng nề nhất đến quần thể loài Mang? Nạn săn bắn bằng bẫy dây phanh và súng tự chế của người dân vùng đệm nhằm lấy thịt thương phẩm là mối đe dọa lớn nhất, kết hợp cùng hoạt động khai thác gỗ và làm đường giao thông gây chia cắt sâu sắc không gian sinh cảnh sống tối ưu của loài.

  4. Đặc điểm sinh cảnh nào tại Xuân Liên thích hợp nhất cho loài Mang sinh sống? Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và á nhiệt đới có độ tàn che lớn, giàu tầng cây bụi và dây leo với hơn 100 loài cây cung cấp thức ăn (như các loài thuộc họ Dẻ, họ Dầu, họ Cà phê) là nơi tập trung phần lớn cá thể của giống Mang.

  5. Giải pháp cấp bách nào cần ưu tiên để bảo vệ giống Mang tại địa phương? Cần thành lập ngay các tổ tuần tra bảo vệ rừng cộng đồng tại 12 thôn bản giáp ranh vùng lõi, triệt phá toàn bộ các điểm thu mua thịt thú rừng trái phép và đẩy mạnh giao khoán quản lý bảo vệ 22.207 ha rừng tự nhiên cho người dân địa phương.

Kết luận

  • Xác định rõ ràng thành phần loài giống Mang tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên gồm 2 loài: Mang thường (Muntiacus muntjak) và loài đặc hữu Mang Pù Hoạt (Muntiacus puhoatensis).
  • Lập bản đồ phân bố sinh thái chi tiết với vùng sinh cảnh cốt lõi tập trung trên 4.555,22 ha rừng kín thường xanh nguyên sinh ở đai cao dưới và trên 800 m.
  • Nhận diện và lượng hóa chính xác 8 nhóm mối đe dọa sinh thái, trong đó nạn bẫy bắt động vật rừng và mất sinh cảnh tự nhiên chiếm tỷ trọng tác động trên 72%.
  • Đóng góp bộ cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn mực với 373 phiếu điều tra xã hội học và hệ thống dữ liệu bẫy ảnh tự động giám sát đa dạng sinh học.
  • Hoàn thiện khung giải pháp quản lý đồng bộ từ kỹ thuật bảo tồn nguyên vị đến phát triển sinh kế cho 26.095 người dân vùng đệm trong giai đoạn 2018-2025.

Công trình nghiên cứu của học viên Nguyễn Duy Vĩnh là tài liệu khoa học quý giá giúp các cơ quan quản lý và lực lượng kiểm lâm triển khai các giải pháp cấp bách nhằm gìn giữ nguồn gen thú móng guốc đặc hữu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên.