Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo vệ cơ sở dữ liệu trên hệ thống thông tin Chính phủ điện tử Chương 2: Thực trạng bảo vệ cơ sở đữ liệu trên hệ thống thông tin Chính phủ điện tử Chương 3: Kinh nghiệm quốc tế và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ cơ sở dit liệu trên hệ thong thông tin chính phủ điện tử ở Việt Nam. KET QUÁ NGHIÊN CỨU CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE BẢO VỆ CƠ SO DU LIEU TREN HỆ THÓNG THÔNG TIN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ 1. Khái quát về cơ sở dữ liệu và bảo vệ cơ sở dữ liệu 1.1 Cơ sở dữ liệu Trong nhiều năm gần đây, thuật ngữ Cơ sở đữ liệu (Database) đã trở nên quen thuộc trong nhiều lĩnh vực. Các ứng dụng tin học vào quản lý ngày càng nhiều và đa dạng, hầu hết trải khắp ở các lĩnh vực như kinh tế, xã hội.
đều đã ứng dụng các thành tựu mới của tin học vào phục vụ công tác chuyên môn của mình. Chính vì lẽ đó mà việc quan tâm, tìm hiểu đến bản chất và ứng dụng cơ sở dữ liệu (CSDL) là vô cùng quan trọng và nên tảng. Cơ sở dữ liệu đã được nhac đên trong Luật công nghệ thông tin và các tài liệu liên quan đên triên khai ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước. Hiéu đúng về khái niệm các co sở dir liệu nay là điêu hệt sức cân thiệt dé có thê thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
Date, cơ sở dữ liệu (CSDL) là hệ thống lưu các bản ghi trên máy tính (computerized record-keeping system). Có thé xem CSDL là tủ tài liệu điện tử - nghĩa là kho chứa hồ sơ tài liệu — nhưng các tài liệu này năm trên máy tính. Người sử dụng hệ thống nay được cung cấp một số công cụ cơ bản dé có thé thực hiện một số phép toán như: Thêm các hồ sơ mới vào kho, Thêm đữ liệu vào các hồ sơ, Lay dữ liệu từ các hồ sơ trong kho, Thay đôi các dữ liệu hiện có trong các hé so, Huy mot số đữ liệu trọng các hồ sơ, Hủy một số hé sơ trong kho. Theo cách định nghĩa cơ sở dir liệu của từ điển Oxford: “Mot tap hop co cấu trúc của đữ liệu được lưu trong máy tính, theo một cách đặc biệt nào đó có thể được tiếp cận theo những cách khác nhau”.
` Theo Wikipedia, cơ sở dit liệu là một tập hop thông tin có cấu trúc. Tuy nhiên, thuật ngữ này thường dùng trong công nghệ thông tin và nó thường được hiểu rõ hơn "Theo https://www. ? Theo https://vi. dưới dang một tập hợp liên kết các dit liệu, thường đủ lớn dé lưu trên một thiết bị lưu trữ như đĩa hay băng từ.
Dữ liệu này được duy trì dưới dạng một tập hợp các tập tin trong hệ điều hành hay được lưu trữ trong các hệ quản tri cơ sở dtr liệu. Theo trang công nghệ techtarget.com: Một cơ sở đữ liệu là một tập hợp các thông tin được tổ chức dé nó có thé dé dàng được truy cập, quản lý và cập nhật.” Theo một vải quan điểm, cơ sở đữ liệu có thể được phân loại theo loại nội dung: thư mục, văn ban day đủ, số, và hình ảnh. Trong máy tính, co sở dit liệu đôi khi được phân loại theo phương pháp tô chức của nó. Một định nghĩa được biết đến thông dụng khác: Cơ sở dit liệu là một hệ thong các thông tin có cấu trúc, được lưu trữ trên các thiết bị leu trữ nhằm thỏa mãn yêu câu khai thác thông tin đông thời của nhiễu người sử dụng hay nhiễu chương trình ứng dụng chạy cùng một lúc với những mục đích khác nhau.
Tựu chung lại có thé nhìn nhận rằng, “cơ sở đữ liệu ` là tap hợp các dit liệu được chuyển hóa từ các thông tin trong thé giới thực. Các thông tin này được thu thập, quản lý và phục vụ chia sẻ cho nhiều người dùng. Khi nói đến cơ sở dit liệu trong văn bản quy phạm pháp luật như Cơ sở đữ liệu quốc gia hay cơ sở đữ liệu của các Bộ, ngành, địa phương có nghĩa là nói đến thông tin được thu thập chuyển hóa thành dữ liệu và được lưu trữ, quản lý phục vụ các mục đích quản lý nhà nước. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu là thu thập thông tin và xây dựng, chuẩn hóa dữ liệu là yếu t6 cơ bản.
Triển khai các hệ thống thông tin quản lý cơ sở dữ liệu chỉ là yếu tô phụ. Việc sử dụng hệ thống CSDL sẽ khắc phục được những khuyết điểm của cách lưu trữ dạng file riêng lẻ như giảm trùng lặp thông tin, đảm bảo tính nhất quán và toàn vẹn dữ liệu; cho phép dữ liệu được truy xuất theo nhiều cách khác nhau, từ nhiều người khác nhau và nhiều ứng dụng khác nhau; tăng khả năng chia sẻ thông tin. Trong cuộc sống hang ngày chắc han ban có sử dụng qua các hệ thống CSDL nhưng ban lại không biết. Chang han hằng ngày bạn vào đọc bài tin tức từ các trang báo, ở mỗi trang họ có dùng một hệ thong lưu trữ dữ liệu và khi ban vào xem hệ thống sẽ tra dir liệu về màn hình trình duyệt cho ban xem.
Rõ ràng ban có thé truy cập một 3 Theo https://www. lúc nhiêu trang và nhiêu người có thé đọc một trang cùng một lúc được, nhưng vẫn đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu không bị sai lệch. Tuy nhiên, qua các khái niệm, ta có thể tóm tắt một số điểm chung của cơ sở dir liệu là: - Tập hợp thông tin có cấu trúc. - Được quan lý và duy trì phục vụ khai thác thông tin.
- Có thể phục vụ nhiều đối tượng khai thác với nhiều cách thức khác nhau. - Có nhiều giải pháp khác nhau để xây dựng và quản lý cơ sở đữ liệu. Bảo vệ cơ sở dữ liệu Thực tê tại nhiêu nước trên thê giới đã cho thây, bảo đảm an toàn cơ sở dữ liệu luôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng, liên quan mật thiết đến sự phát triển bền vững của đời sống xã hội, thậm chí của cả một quốc gia, dân tộc. Và ở thời điểm hiện tại, khi mà chuyển đôi số đang là chiến lược nhăm kiến tạo xã hội, hướng đến các mô hình quản lý ưu việt, minh bạch và hiệu quả, thì nguy cơ mat an toàn cơ sở dữ liệu lại đang có chiều hướng gia tăng, trở thành mối đe dọa trực tiếp tới sự 6n định, phát triển của không ít quốc gia, chế độ.
Do tính chất cũng như tầm quan trong của cơ sở dt liệu, việc bảo vệ cơ sở dữ liệu rất quan trọng đối với tat cả các chủ thé tham gia sử dung cơ sở dữ liệu. Bảo vệ cơ sở đữ liệu là việc đảm bảo sự an toàn cho hệ thống thông tin, ngăn chặn các truy cập không được phép và hạn chế các sai sót của người truy cập. Việc bảo vệ cơ sở dữ liệu sẽ là yếu tố cấp thiết để việc vận hành hệ thống thông tin được an toàn và phát triển." Bảo vệ CSDL là biện pháp tự bảo đảm tài sản hoặc tài nguyên của chính mình trước các mối đe dọa của người lạ. Đối với các chủ thể, bảo vệ CSDL là van đề rất quan trọng trong vấn đề quản lý, nó ảnh hưởng đến vận hành những hệ thống thông tin.
Vì vậy, mang lưới máy tính, thông tin của các chủ thé là nơi có thé gặp các van dé liên quan đến mat dit liệu, mat thông tin. Bảo vệ CSDL ở đây dé có thé sẵn sàng dé phòng mọi khả năng xấu với các phương cách thích hợp và chuẩn bi xử lý các sự cố nêu có việc lạm dụng xảy ra với các biện pháp bảo vệ cơ sở dữ liệu hiệu quả. * Bảo mật cơ sở dữ liệu: Các giải pháp bảo mật chủ yếu/Giải pháp Fortinet. 8 Với tài nguyên đặc biệt là dữ liệu thông tin, mô hình chính phủ điện tử chắc chan sẽ giúp cải cách, rút gọn nhiều thủ tục hành chính phức tạp, tăng năng suất lao động, bảo đảm đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mọi công dân trong xã hội.
Tuy nhiên, dé hoàn thành các mục tiêu đó, không thể bỏ qua nhiệm vụ bảo vệ nguồn cơ sở dữ liệu. Nhiệm vụ hệ trọng này giờ đây phải chịu thêm nhiều sức ép mới khi đối mặt với những mối de dọa an ninh phi truyền thống trên không gian mạng, nền tảng số. Trên thực tế, du không phải quốc gia nào cũng có một bộ luật hoàn chỉnh và đầy đủ về an ninh mạng, nhưng các đạo luật, điều khoản riêng để bảo vệ Nhà nước và nhân dân trước các hoạt động phạm tội trên không gian mạng đã được ban hành và áp dụng rộng rãi. Điển hình như tại Mỹ có Đạo luật về hành vi lạm dụng và lừa đảo bằng phương tiện máy vi tính (Computer Fraud and Abuse Act - CFAA), Đạo luật về bảo mật truyền thông điện tử (Electronic Communications Privacy Act), Đạo luật An ninh mạng về chia sẻ thông tin (Cybersecurity Information Sharing Act).
Các đạo luật nêu trên đều tương đối nghiêm khắc. Chăng hạn, theo đạo luật CFAA, chỉ cần truy cập trái phép vào máy tính đã được bảo mật sẽ phải chịu mức án tối đa lên đến 5 năm tù (10 năm nếu tái phạm) và phạt tiền. Tại Thái-lan và Ma-lai-xi-a đều có đạo luật Các loại tội phạm máy tính (Computer Crimes Act). Từ năm 2018, Đạo luật an ninh mang (Cybersecurity Act) của Xin-ga-po đã chính thức có hiệu lực.
Tại Việt Nam, vẫn đề bảo vệ cơ sở dữ liệu chưa được quan tâm đúng mức. Vì vậy, có rất nhiều công ty, doanh nghiệp ké cả các cơ quan thuộc Nhà nước vẫn gặp phải van dé mat an toàn về dir liệu thông tin. Chính vi thế, cần phải có cái nhìn đúng về van dé này cũng như sự quan tâm tìm hiểu tới tính cấp thiết của van dé. Chúng tôi sẽ triển khai làm rõ những bất cập cũng như thực trạng van đề bảo vệ co sở dit liệu ở phân sau của đê tài.
Khái quát về hệ thống Chính phủ điện tử 1. Khái niệm chính phủ điện tử Tính đến nay, có nhiều tổ chức quốc tế đưa ra định nghĩa về thuật ngữ CPĐT, trong đó có nhiều cách hiểu được sử dụng phổ biến trong quan hệ quốc tế. Có thé ké đến một số cách hiểu thông dụng sau đây: - Theo Liên Hợp Quốc: “CPDT được định nghĩa là việc sử dung Internet và mạng toàn cau (world-wide-web) để cung cấp thông tin và các dịch vu của chính phi tới công dân ”.