chương 1 của dé tài đã trình bay những í thuyết của Max Weber và Ronald Coase về vai trò dim bảo tự do sở hữu, tự do chuyển nhượng và giảm chi phí giao dich của pháp luật tài sản (bao gồm pháp luật dat đai) đồi với phát triển kinh tế Những í thuyết này nhìn qua có về mâu thuẫn với lí luận của chủ nghĩa Marx - Lenin về chẽ đô công hữa tư liệu sản xuất nói chung, cũng như chẽ đồ sở hữu toàn dân vé dat dai n ang, song có thé được giải quyết bằng biện pháp thay đổi cách tiép cận, chuyến từ quyền sở hữu sang quyền tài sản. Trên một diện tích dat đai thuộc sở hữu, toàn dân, có thé phát triển nhiều quyền tài sản có gi trị cao, có ý nghĩa kính tê. Tuy nhiên, những quyền tài sản này đang thiêu sự đảm bảo pháp lý, cũng như những cam kết bảo hộ từ Nhà nước. Do vậy muỗn đi vào thực tiễn, những quyền tài sản này rất căn có những thay đối trong chính sách pháp luật, theo hướng gia tăng sự bảo hộ, đảm bảo quyền được sử dụng dat một cách ồn định, lầu d j,Ítrũi ro cho người sử dụng đặt.
"Ram Duy Neh, 240/5 10% 36 2. KINH NGHIỆM QUỐC TE VỀ XÂY DỰNG. VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT ĐẤT ĐẠI ‘TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DOI SANG NEN KINH TẾ THỊ TRUONG Vẽ lí thuyết, vệc thúc đầy tự do sở hữu nói riêng, và các quyễn tự đo kinh tế khác nói chung trong nén kinh tế cắn phải được tiên hành để dim bảo thi trường, vn hành một cách đúng quy luật. Song thực t, do nhiều tác động khác nhau, mang màu sắc chính tri, mà quả trình chuyên đổi này có nơi, có lúc đã diễn ra một cách ö a, thiêu kiểm soát.
"rong khối các nước xã hội chủ nghĩa tru ớc đây, sau sự tan rã của Liên bang X6 viết năm 1991, một cuộc tư nhân hóa toàn diện đã diễn ra ở Đông Âu và các nước thuộc Liên Xô cũ như một biện pháp đánh gục hoàn toàn tư duy công hữu tư liệu sản xuất và tái thiết lập cơ sở kinh tê bến vững của chủ nghĩa tu bản. Một nghiên cứu của Ngân hàng Thé git năm 2002 đã gọi quá trình này “mười năm chuyển đối đầy thành công và bi kịch 5 2. Trường hợp nước Nga va các nước Đông Âu hậu Xô viết “Trước thời điểm tông thông Viadimir Putin lên cầm quyến, quá trình chuyễn. đối hậu Xô viết của nên kinh té Nga trong sẵn một thập ki đã diễn ra một cách vội vàng.
Những tư tưởng kinh tế tự do Tây Phương đã được áp dung 6 at vào một xã hội Nga hầu Xô viet, đã hơn 70 năm quen với kinh tê kẽ hoạch. Liêu pháp sốc được thực hiện mà không cân nhắc đến các yêu tô chính trị, văn hóa, xã hội đã gây ra hậu qu’ khôn lường. Nghiên cứu của Murrel năm 2001 chỉra rằng: Kinh tế Nga vẫn chưa lay lại được mức độ tăng trưởng trong thời kì xuất phát, đa số người dân trở nên nghèo túng'Ê, Tinh trạng tương tu cũng diễn ra ở các nước Đông Âu. Với chiêu bài tư nhân hóa, một lượng lớn tài sản nhà nước, đắc biệtlà đất dai đã được chuyền giao cho tư nhân một cách thiêu cân nhắc, dẫn dén sự thua thiệt khủng khiếp về mất kinh tễ.
Những din tích đắt dành cho nhà máy hay công nghiêp, đã được chuyển giao cho các nhà kinh doanh dịch vụ dé thỏa mãn những nhu cầu cap thời vẽ kinh te. Một ví ` WAd Bak, Pretton dhe fitter veers: Anais endless for aster Buvope ane the former Soviet hen, WWeddngten DC, 7002 ' Bao Manel deez the var of av Teton Economies, The Unsvecy of Michigan Pree, 2001 18 dụ điền hình gin gũi với người Việt Nam: ty phú đương thời của Việt Nam- ông Pham Nhật Vương~ cũng đã khởi đầu sự nghiệp của mình từ việc thuê mua lại diện. tích đất của nhà máy xe tăng Malyshev và nhà máy Ucrelektromash (Ukraine). Dĩ nhiên, những người làm giàu được trong quá trình tư nhân hóa này chỉ là số ít, và người Việt Nam cũng có thé cảm nhận phan nào tinh trạng nước Nga những năm 1990 qua một số thương vụ cỗ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam, khi mà những doanh nghiệp với diện tích “đất vàng" được định giá rẻ mat".
“Thực tễ cho thay, khi thiêu di một hệ thông pháp quyền day đủ, thì tự do kinh tế, từ nhân hóa đất dai sẽ dẫn tới một trật tự xã hội như giai đoạn thô sơ của chủ nghĩa tư bản đầu thê ki XVII, một trật tự xã hội mà “từ đầu đến ngón chân đều vay máu” như cách gọi của Karl Marx. Trường hợp thành công của Trung Quéc Khác với nước Nga, Trung Quốc đã lựa chọn con đường cải cách một cách. chậm rãi, đi từng bước. Con đường của người Trung Quốc vẽ cơ bản được dựa vào.
hai nên tảng: (i) sự khuêch trương tinh thần dân tộc, (i) sự cải cách từng bước pháp. luật tài sản phù hợp vớt cầu trúc xã hội, thực trạng tổ chức các thiết chẽ hiện hành. và thối quen kinh doanh của người Trung Hoa ‘88 giải quyết được mau thuẫn giữa chê độ công hữu tài sản va phát triển kinh tế, cũng như thực hiện được quá trình chuyên đối sang nên kinh tễ thị trường mà không gây ra các bién động xã hội lớn, người Trung Quốc chủ yêu sử dụng một sẽ biện pháp như sau “Thứ nht là liên tục phi tập trung hóa quyền quản lý tài sản: Để tránh tình trang “cha chung không ai khóc” đôi với khi tài sản không lỏ của nhà nước (mà một phan lén là đắt dail, Trung Quốc đã đi từ chỗ tập trung quyền quản lýtài sản vào tay chính phủ trung ương như thời kì kinh tế chỉ huy quan liêu bao cấp, đã mạnh dạn. Trong vòng 20 năm cải cách kinh tê, việc phân quyễn quản lý tài sản đã TPG TS Phạm Dey NG Geng đn rà một s viêt do th rụng ny, har Em ing Tên don, gập có qin ng L400 m3 dit vừng ta thỏ Tring Din Giá No) d được deh gi 32 tỷ đừng hề cổ tôn Công Buh Vân nộ Tey ws lung me) et bimbo De Phấn sử Bộ Ty orga 850 vệ đồng ly Fisch sn Tế 0a ngự ben bo Hồ Gum mực ah øí 35 đồng “Xem tim: Tụ lận găng dạy chương rạh hd RuBrtg 20 được thực hiện ở nhiều cap độ: (i) từ chính quyền trung wong suõng các tỉnh, va các cắp hành chính thấp hơn, (i] từ cơ quan quần lý nhà nước xuống các doanh nghiệp nhà nước, (i) từ doanh nghiệp nhà nước xuõng tư nhân và hộ gia đình, (iv) từ doanh nghiệp xuông các giám đốc và nhân viên điều hành.
“Thứ hai la thông qua quả trình phân quyền quản lý tài sản, Trung Quỗc đã hình thành một trật tự sở hữu mới lạ, rắt khó định nghĩa với giới hoc giả phương Tây: Có nhà nghiên cứu định danh hệ thông này là “sở hữu ẩn”, “sở hữu phi công công” ~ một hình thức sở hữu không phải công hữu, nhưng cũng chưa phải sở hữu tư nhân. Sở di gọi là “sở hữu ẩn”, vì dưới vỏ bọc công hữu, bản chất sở hữu công của Trung Quốc đã không còn giỗng như công hữu theo hoc thuyết chính trị - pháp lý Soviet như trước đây, mà quyễn tài sản đã được trai réng: Cơ quan nhà nước giữ quyền kiếm soát và điều hành, tư nhân được phần quyền sử dụng và khai thác lợi tức. ‘Theo nghiên cứu năm 1996 của David D.Li vẽ van đểtài sẵn trong một nén kính tễ chuyển đối (sang nên kinh tế thị trường), thì “Trung Quốc đã liên tục tư hóa quyền. sử dụng tài sản công, mà không căn tư nhân hóa” 1# “Thứ ba, là song song với phi tập trung hóa quyễn quản lý tài sản, Trung Quốc cũng phi tập trung hóa các nguồn thu chi ngân sách của các địa phương.
Một khi các địa phương trên khắp dat nước Trung Hoa rông lớn có được sự tư do chỉ tiêu tài chính, chính quyền địa phương sẽ có động cơ khuyên khích kinh doanh trên địa ban cửa mình. Đây là điềm có sự khác biệt lớn với Việt Nam. Vào thời điểm năm 2002, đã có nhà nghiên cứu nhân định: Về khía cạnh chính sách thuê, Trung Hoa đã trở thành một quốc gia có yêu tb của nhà nước liên bang [federal - state)!° “Thứ tu là đầy mạnh hop tắc công - tu, dưới vỏ bọc là các doanh nghiệp hương tran hay “công ty mũ đỏ”. Các công ty dang này là sự liên kết giữa doanh nghiệp và chính quyên địa phương để kinh doanh: Tư nhân góp von và tổ chức kinh doanh, chính quyền hỗ trợ bằng van vay hoặc tài sản công như đất đai.
Giữa hai bên hình. thành théa thuận về cách thức kiếm toán, kiểm soát việc kinh doanh và phân chia David D Li, 4 Decry of enbipuons propery right x mension economy: Tecate of Chinese ơn ctor, To Wiis Devon Ra, Univers ay of Michigan usness School thing 0671996 `" Ymgÿi Qua, How Reform worked Chana, WOT hing 06/2002 a lợi nhuận. Điều này tao ra đồng lực cho công chức nhà nước trong việc đảm bảo tur do kinh doanh cho doanh nghiệp. Cả nước Trung Quốc đã có hơn 15 triệu doanh.
nghiệp hương trần với 52 triệu lao động, đồng góp đáng kế vào phát triển kinh tễ và đồ thị hóa nông thôn, 2. Trường hợp Peru Nếu như trường hợp nước Nga, Đồng Âu hay Trung Quéc là những thành công, hay that bại của một nền kính tế chuyên đối từ không gian Xổ viết sang kinh té thị trường, thi trường hop Peru lại là một quốc gia đang phát triển di lên xây dựng kinh tế thị trường, mà không có sự ảnh hưởng của quan điểm Marxist Peru cũng có may mắn là quê hương của nhà kinh tễ học Hernando de Soto. Ông là một trong những nhà kính tễ có anh hưởng nhiều nhất về chính sách trao. quyền tài sản dat dai cho người dân ở các nước đang phát triển.
Với trường hop Peru, de Soto đã theo dõi sự phát trién của đặt nước mình, và rit ra nhiều nhận. (83 từ lâu các nhà kinh tê nhãn mạnh tầm quan trọng có tính quyết định của và phát triển kinh tễ. Trong các tác phẩm của de quyền tài sản đôi với tăng trưởng Soto, cũng như các đồng nghiệp của ông như Douglass North, Barry Weingast, hay gắn đây hon là Daron Acemoglu và James Robinson đều chứng minh rằng khi quyền.