Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU & CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan nghiên cứu Một số công trình nghiên cứu khoa học về tín ngưỡng thờ mẫu đã được công bố: Đinh Gia Khánh với bài "Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hoá dân gian ở Việt Nam" (Tạp chí văn học, số 5, tr 7-13, 1992) Đặng Văn Lung với bài "Thử tìm hiểu cách xây dựng hình tượng Mẫu Liễu" (Tạp chí Văn học, số 5, tr 24-28, 1992) - "Tín ngưỡng Mẫu và lễ hội Phủ Dầy" tổ chức năm 2001 tại Hà Nội. Khóa luận Tốt nghiệp: Tín ngưỡng thờ Mẫu khu vực phố Hiến (Hưng Yên) - Lưu Thị Quyên. “Mẫu Liễu sử thi” - Hồ Đức Thọ (Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc ấn hành - năm 2000) Luận văn thạc sĩ xã hội học: Dư luận xã hội về tính thiêng liêng của các di tích lịch sử văn hóa đối với việc bảo tồn giá trị văn hóa của các di tích này ở Hà Nội hiện nay.
- Trần Thị Hiên. Nghiên cứu bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá dân tộc Thổ trong hoạt động Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam- Lê Mai Oanh (12/2018). Đề án Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể “ Thực hành tín ngưỡng thờ mẫu Tam Phủ của người Việt” trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2019 -2022. Phương Lan với bài “Bảo tồn di sản văn hóa dân tộc là vấn đề cấp thiết” (Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 04/2021) 8 9 “Mối quan hệ giữa bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa với phát triển du lịch trong giai đoạn hiện nay” - Bùi Thanh Thúy ( Nghiên cứu văn hóa, số 29, trang 72-78 ,tháng 9/2019 ) Các công trình nghiên cứu trên đã đem lại cho người đọc những góc nhìn đa dạng, có chiều sâu, củng cố những hiểu biết và nhấn mạnh về tầm quan trọng của tín ngưỡng thờ Mẫu đến độc giả.
Song, các công trình chỉ dừng lại ở mức độ tìm hiểu về các giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu, chưa đề cập đến việc khai thác các giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu và đặc biệt chưa khai thác giá trị của tín ngường thờ Mẫu cho phát triển du lịch nói chung & du lịch Hà Nội nói riêng. Tín ngưỡng Thờ Mẫu và hoạt động tín ngưỡng Thờ Mẫu Tín ngưỡng, tôn giáo Theo khoản 1 và khoản 5 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng. Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức. Ta có thể hiểu đơn giản tín ngưỡng là một trong các hiện tượng tâm lý xã hội chi phối mạnh mẽ đời sống tâm lý của con người hay chính là “niềm tin theo một tôn giáo nào đó”.TS Ngô Đức Thịnh trong “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam” khẳng định “Tín ngưỡng là niềm tin của con người vào thực thể, lực lượng siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin vào sự ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được”.
Ta có thể hiểu đơn giản niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng chính là niềm tin của bản thân vào các thực 9 10 thể, lực lượng siêu nhiên do chính con người tạo ra, nhằm thỏa mãn các nhu cầu, mong muốn của bản thân. Niềm tin đó cùng tồn tại và phát triển bên cạnh đời sống vật chất và đời sống tình cảm của con người. “Hoạt động tín ngưỡng”: Theo Nghị định 92/2012/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (2012): Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội. Văn hóa: Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Theo UNESCO: ‘Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”. Định nghĩa này của UNESCO đã nhấn mạnh vào các hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển, tiến trình lịch sử của cộng đồng người đó, từ đó, tạo nên những giá trị văn hóa và nét đặc trưng, bản sắc dân tộc của mỗi cộng đồng. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm văn hóa được hiểu là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra nhằm thích ứng những nhu cầu mong muốn trong đời sống và đó cũng chính là đòi hỏi của sinh tồn, loài người cần văn hóa để sinh sống và phát triển.
Người viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những 10 11 sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Tín ngưỡng thờ Mẫu: Tín ngưỡng thờ Mẫu không phải là một hình thức tín ngưỡng tôn giáo đồng nhất, mà nó là một hệ thống các tín ngưỡng, trong đó ít nhất bao gồm ba lớp khác nhau, nhưng có mối quan hệ hữu cơ và chi phối lẫn nhau, đó là lớp tín ngưỡng thờ Nữ thần, lớp thờ Mẫu Thần và lớp thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ.
Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ là một hình thức thờ cúng người Mẹ hóa thân ở các miền trời, sông nước, rừng núi được hình thành trên nền tảng của tín ngưỡng thờ Nữ thần. Người dân thờ cúng Thánh Mẫu Liễu Hạnh cùng với các vị Thánh Mẫu cai quản miền trời, rừng, nước, những nhân vật lịch sử hoặc huyền thoại có công với nước, với dân. Theo thư tịch và huyền thoại, bà là tiên nữ giáng trần, làm người, rồi qui y Phật giáo, được tôn vinh là “Mẫu nghi thiên hạ”, một trong bốn vị thánh bất tử của người Việt. Từ thế kỷ XVI, tín ngưỡng này trở thành một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và tâm thức người dân, đáp ứng nhu cầu và khát vọng của đời sống con người.
Khác với các tín ngưỡng ngoại lai, được du nhập vào Việt Nam trong quá trình lịch sự, Đạo mẫu là tín ngưỡng có nguồn gốc bản địa, mặc dù trong quá trình phát triển, nó đã thu nhận những ảnh hưởng của Đạo giáo, Phật giáo hay thậm chí cả Nho giáo nữa. Đạo Mẫu lấy tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm đấng sáng tạo và bảo trì cho vũ trụ, con người, là nơi con người gửi gắm mong ước, khát vọng về đời sống trần thế của mình làm thỏa mãn tâm lý của con người đặc biệt là người nông dân. 11 12 Việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người của Đạo Mẫu đã dễ dàng đi vào đời sống dân gian Việt Nam, có ảnh hưởng nhất định trong xã hội và đời sống tâm linh của mỗi con người bởi Việt Nam được coi là cái nôi của nền văn minh lúa nước, xã hội mang đậm tàn tích mẫu hệ với vai trò to lớn của người phụ nữ. Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu tam phủ của người Việt phân bố ở nhiều địa phương: Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, thành phố Hồ Chí Minh, lan tỏa và được thực hành ở nhiều địa phương trong cả nước.
Tỉnh Nam Định được coi là một trong những địa phương có các trung tâm thờ thánh Mẫu Liễu Hạnh tiêu biểu với những nơi lưu giữ sự tích về sự giáng thế của Mẫu như Phủ Dầy, Phủ Nấp và gần 400 nơi thờ cúng thánh Mẫu. Chủ thể di sản là thủ nhang, thầy cúng, thanh đồng, hầu dâng, cung văn, con nhang đệ tử cùng với cộng đồng cư dân có chung một niềm tin vào quyền năng, sức mạnh tối linh, sự bảo trợ của các Mẫu, đứng đầu là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, gắn bó với nhau thành bản hội, cùng nhau thực hành nghi lễ thờ cúng, tham gia lễ hội, lên đồng tại các phủ, điện Thờ Mẫu. Tín ngưỡng thờ Mẫu được xây dựng và bảo tồn trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta bởi các câu truyện lịch sử cũng như truyền thuyết về các vị anh hùng dân tộc. Tinh thần yêu nước, thương dân ấy được sử sách ghi lại bởi những thần tích, để rồi nhân dân dựa vào đó mà sáng tạo nên các lễ hội, và hình thức diễn xướng “hầu đồng” (hay còn gọi là “hầu bóng”).
Niềm tin bất diệt vào sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác, niềm tôn kính vô bờ với các vị anh hùng dân tộc (khi sinh là tướng, khi khác hiển thần) đã khiến tín ngưỡng thờ Mẫu tồn tại lâu dài trong đời sống tinh thần của người dân đất Việt. Thông qua hình thức “hầu đồng” tín ngưỡng thờ Mẫu hướng con người đến với những ước vọng về một cuộc sống tốt hơn, hạnh phúc hơn đồng thời mang lại cho họ sức mạnh niềm tin với cái thiện. 12 13 Tại các điện thờ Thánh Mẫu, nghi thức thờ cúng hàng ngày do các thủ nhang thực hiện. Thực hành cơ bản của Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ là nghi lễ lên đồng và lễ hội, tiêu biểu là Lễ hội Phủ Dầy ở xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định diễn ra từ ngày mồng 3 đến ngày 10 tháng Ba âm lịch (ngày giỗ của Thánh Mẫu Liễu Hạnh) với những nghi lễ, diễn xướng dân gian, xếp chữ, lễ rước thỉnh kinh.
Thông qua các yếu tố văn hóa dân gian như trang phục, âm nhạc, hát chầu văn, múa, diễn xướng dân gian trong lên đồng và lễ hội, người Việt thể hiện quan niệm của mình về lịch sử, di sản văn hóa, vai trò của giới và bản sắc tộc người.