CHƯƠNG I HƯỞNG THỤ VÀ SÁNG TẠO CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TINH THẦN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Bản chất của hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa tinh thần 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là lĩnh vực vô cùng rộng lớn và sự thẩm thấu của văn hóa trong đời sống xã hội đã nói đến chức năng, vai trò to lớn của văn hóa trong lịch sử. Năm 1871 định nghĩa đầu tiên của E.
Tylor về văn hóa được xem như là cột mốc đánh dấu sự sinh thành của một ngành học. Cách tiếp cận của Tylor xem văn hóa như là những gì mà con người làm ra với tư cách là một thành viên của xã hội. Sau này các định nghĩa theo thời gian mà trở nên nhiều hơn. Nhiều nhà nghiên cứu đã thống kê hiện nay văn hóa đã có gần 1000 định nghĩa.
Trên Google hiện nay có khoảng 9.000 tài liệu đề cập đến vấn đề này trong đó có gần 500 định nghĩa về văn hóa1. Dù có nhiều quan niệm khác nhau nhưng nhìn chung, khi nói đến văn hóa là nói đến những gì con người làm ra để đáp ứng nhu cầu của con người. Nhà triết học người Pháp T.Chardin xem văn hóa là “tri quyển” để phân biệt với “sinh quyển” là cái tự nhiên. Quan niệm Mác xít xem văn hóa như là “thiên nhiên thứ hai” do con người sáng tạo nên.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thì xem văn hóa là toàn bộ những sáng tạo và phát minh của con người. “Vì lẽ sinh tồn và mục đích của cuộc sống mà loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”2. Ngược về 1 Việt Phương - Một số vấn đề về văn hóa lãnh đạo, văn hóa quản lý ở nước ta hiện nay - T/c thông tin Văn hóa và phát triển, số 12/2007.
2 Hồ Chí Minh toàn tập,Nxb CTQG HN 2000, tập 3 trang 431. 8 lịch sử, quan niệm Phương Đông xem văn hóa như là một quá trình đưa những gì tốt đẹp vào cuộc sống để quản lý và phát triển xã hội. Thuật ngữ “văn trị giáo hóa” có từ rất xa xưa xem văn hóa như là cái không thể thiếu được trong lãnh đạo, quản lý xã hội. Một xã hội được xem là tốt đẹp và muốn dược tốt đẹp thì phải lấy văn hóa làm trọng, lấy văn hóa làm thước đo đồng thời phải đưa cái đẹp, cái đúng, cái tốt vào cuộc sống như một thước đo của xã hội.
Phương Tây xem văn hóa như là sự vun trồng con người. Thuật ngữ culture hàm nghĩa là sự vun trồng, chăm bón, trau dồi. Ban đầu là vun trồng chăm bón cây cối, về sau là vun trồng con người, xây dựng nhân cách con người. Từ đây chúng ta càng thấm thía với câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Vì lợi ích 10 năm thì ta phải trồng cây, vì lợi ích 100 năm thì ta phải trồng người.
Như vậy, trồng người là văn hóa và nhiệm vụ trồng người không phải một sớm một chiều mà phải lâu dài, kiên trì và bền bỉ, không được nôn nóng, vội vàng. Bản chất của văn hóa về cơ bản là như vậy, tuy nhiên trong thực tiễn sinh động, văn hóa phong phú và đa dạng hơn nhiều. Điều đầu tiên mà ai cũng có thể nhìn thấy là không ai sinh ra đã có văn hóa mà luôn có một môi trường văn hóa luôn chờ sẵn. Văn hóa không phải từ trên trời rơi xuống mà là một quá trình.
Quá trình đó bao gồm rất nhiều hoạt động từ sáng tạo, truyền bá, gìn giữ cũng như chia sẻ và chuyển giao các giá trị văn hóa. Tất cả các hoạt động đó nhằm đảm bảo nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa của con người; tất cả vì con người với tư cách là động lực đồng thời cũng là mục tiêu của sự phát triển. Con người - chủ thể sáng tạo ra văn hóa Khi nói về văn hóa, phần lớn các nhà nghiên cứu đều xuất phát từ những hoạt động của con người, một hoạt động có ý thức, được hướng dẫn bởi tư duy. Con người được thừa nhận như một động vật xã hội, động vật bậc cao khi năng lực thể hiện bản chất người bằng những sản phẩm văn hóa.
Chính vì 9 vậy mà khi nghiên cứu văn hóa chúng ta không được tách rời con người, bởi dấu ấn để lại của con người trên hành tinh này chính là văn hóa. Khi nghiên cứu về vấn đề này, mọi người đều thừa nhận rằng dù là văn hóa vật chất hay tinh thần thì những sản phẩm đó không có nguồn gốc từ tự nhiên mà đều là thành quả sáng tạo của con người, với tư cách là chủ thể sáng tạo.A Radughin cho rằng: “Con người tạo ra và sử dụng thế giới các đồ vật và thế giới các ý tưởng xoay quanh con người, và vai trò của con người là vai trò kẻ sáng tạo, còn vị trí của con người trong văn hóa là vị trí trung tâm của việc tạo ra các tác phẩm nghệ thuật, tức là vị trí trung tâm của văn hóa. Con người sáng tạo ra văn hóa, tái tạo và sử dụng văn hóa như phương tiện để tự phát triển. Con người là kiến trúc sư, là nhà xây dựng và người dân của thế giới tự nhiên được gọi là văn hóa thế giới, là “tự nhiên thứ hai”, là nơi trú ẩn “được tạo ra một cách nhân tạo” của nhân loại.
Đó chính là thế giới của các hiện thực, cái thế giới không có trên trái đất trước khi con người ra đời, đó là hiện thực, cái hiện thực xuất hiện, tồn tại và phát triển cùng con người, và sẽ còn tồn tại cho đến khi nhân loại còn tồn tại”1. Con người sáng tạo ra văn hóa như một thiên chức bởi lẽ con người không hài lòng với tự nhiên, thậm chí còn thấy tự nhiên quá chật chội và buồn tẻ. Từ đó con người bước vào hành trình khám phá bản thân mình thông qua quá trình tác động vào tự nhiên. Khái niệm CON NGƯỜI tự bản thân nó đã nói lên tính vật chất và tinh thần của con người với tư cách là một tạo vật đặc biệt của tạo hóa.
Chính vì vậy mà sự hiện hữu của sản phẩm vật chất hay tinh thần cũng là để thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người mà thôi. Để thỏa mãn nhu cầu vật chất, con người tạo ra “những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng”, đó là ăn uống, trang phục, nhà cửa, công trình, đường sá; để thỏa mãn nhu cầu tinh thần con người “sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật”, đó là những lý tưởng về thẩm mỹ, đạo đức, chính trị, tôn giáo. Như vậy, về thực chất hoạt động của con người lan rộng ra 1 A.A Radughin 2004, Văn hóa học, những bài giảng, Viện Văn hóa thông tin 10 tất cả các kênh của văn hóa vật chất cũng như tinh thần, thẩm thấu toàn bộ trong đời sống xã hội. Sự sáng tạo của con người không chỉ thể hiện ở việc làm ra các sản phẩm văn hóa cụ thể mà còn biết văn hóa hóa, biểu tượng hóa những gì đã có trong tự nhiên.
Sáng tạo đó thể hiện năng lực bậc cao của con người trong quá trình tìm kiếm và cải biến hiện thực ở chiều cạnh cao hơn, thẩm mỹ hơn. Chúng ta có thể xem vịnh Hạ Long hay Phong Nha - Kẻ Bàng là di sản thiên nhiên vì nó là sản phẩm của tạo hóa nhưng không có thể không thừa nhận những gì con người đã “tô điểm” cho nó, khoác lên nó chiếc áo thẩm mỹ, thậm chí là chiếc áo tín ngưỡng, tôn giáo linh thiêng. Con người đã sáng tạo ra cái đẹp bằng cách như vậy, cho nên con người luôn đứng ở vị trí trung tâm của sự sáng tạo, cho dù ở lĩnh vực nào, nghệ thuật hay đạo đức, khoa học hay tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán. Con người - sản phẩm của văn hóa Con người là khởi đầu của sự sáng tạo ra văn hóa nhưng suy cho cùng bản chất ấy lại mang tính xã hội và chịu sự chi phối của không gian và thời gian.
Từ khi ra đời với tư cách là “thiên nhiên thứ ai” văn hóa không dừng lại như một sản phẩm thụ động mà ngược lại nó tác động trở lại con người, thậm chí nó còn làm thay đổi “năng lực bản chất người”. Điều này thể hiện vai trò to lớn của văn hóa trong xã hội, trong việc hình thành nhân cách con người. Văn hóa do con người sáng tạo ra trong lịch sử nhưng kỳ diệu và may mắn thay là không ai sinh ra đã có văn hóa mà luôn có một cái văn hóa luôn chờ sẵn. Nền văn hóa đó, không gian văn hóa đó quy định khuôn mẫu ứng xử của con người trong quá trình sống.
Bắt đầu có thể là lời ru đầu đời của mẹ, chuyện cổ tích của bà để rồi sau đó phải “học ăn, học nói, học gói, học mở” thì mới từng bước nên người. Nói chung, để học hỏi những khuôn mẫu ứng xử của một cộng đồng nhất định con người phải hiểu biết những thang bậc giá trị và thực hành theo những hành lang của những giá trị mà một cộng đồng đã tạo nên. 11 Nếu như con người với tư cách là chủ thể sáng tạo ra văn hóa nói đến năng lực sáng tạo thể hiện cá tính cá nhân, thì trong con người với tư cách là sản phẩm của văn hóa lại bộc lộ tính cộng đồng sâu sắc. Con người có thể sáng tạo ra mọi thứ nhưng cái quan trọng là sự lưu giữ của cộng đồng.
Cộng đồng chỉ lưu giữ những gì tốt đẹp, là chân, thiện, mỹ chứ không lưu giữ cái tôi riêng biệt, cái tách rời cộng đồng. Giá trị là thước đo duy nhất để phản ảnh năng lực cá nhân; giá trị cũng là cái duy nhất để cá nhân ràng buộc với cộng đồng. Sự tích hợp của những giá trị do con người sáng tạo ra trong lịch sử cứ thế mà mỗi ngày càng nhiều thêm, trở thành truyền thống, thành các lớp văn hóa và tác động trở lại con người, chi phối nhân cách con người. Sự hình thành nhân cách con người không đơn thuần là sự chuyển giao một cách thụ động những giá trị mà là một quá trình năng động hóa đời sống văn hóa.