Chương 1: Cơ sở lí luận - thực tiễn của đề tài Chương 2: Môi trường sinh thái với các đặc điểm nội dung của ca dao, dân ca làng chài vịnh Hạ Long Chương 3: Môi trường sinh thái với các đặc điểm nghệ thuật của ca dao, dân ca làng chài vịnh Hạ Long 12 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN - THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lí thuyết phê bình sinh thái 1. Giới thiệu lí thuyết phê bình sinh thái Phê bình sinh thái là một khái niệm ra đời muộn vào ba thập niên cuối của thế kỉ XX, được phát triển từ khái niệm sinh thái học của nhà sinh học nổi tiếng người Đức E.
Haecker đề xướng vào năm 1869. Từ khi ra đời đến nay, đã có rất nhiều bài viết và các công trình nghiên cứu luận bàn về lí thuyết của phê bình sinh thái và việc ứng dụng phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học. Nhiều công trình được dịch thuật sang Tiếng Việt và được đăng tải trên các tạp chí, bài viết, sách giới thiệu, nghiên cứu phê bình ở Việt Nam. Những tài liệu này thực sự có giá trị, giúp các nhà nghiên cứu có cách tiếp cận với những đường hướng của phê bình sinh thái.
Tháng 3 năm 2001, trong chuyến trao đổi học thuật giữa Viện Havard Yenching với các nhà nghiên cứu của Việt Nam tại Viện Văn học, Karen Thornber đã có một bài giảng về lý thuyết phê bình sinh thái là Ecocriticism [36] và được các dịch giả chuyển sang tiếng Việt. Đây được xem là tài liệu đầu tiên có ý nghĩa dẫn nhập về phê bình sinh thái và chính thống hoá nhánh nghiên cứu văn học theo một định hướng mới, khác với những định hướng truyền thống trước đó. Trong phần đầu của bài viết của mình, Karen Thornber đã nêu ra những vấn đề cơ bản về bản chất, ý nghĩa cũng như tiến trình nghiên cứu văn chương đặt trong mối quan hệ với môi trường, điều đó càng khẳng định tính cấp thiết về sự hình thành và phát triển của phê bình sinh thái. Trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu, chứng kiến sự thay đổi của môi trường, tác giả đã khẳng định: “Văn chƣơng có ảnh hƣởng quan trọng đến sự hiểu biết về biến đổi môi trƣờng trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa; đồng thời, ảnh hƣởng đến những công trình đi về sau nhƣ triết học môi trƣờng, chính trị, thể loại, nơi chốn, khu vực và quốc gia” [36].
Từ những nội dung trong bài giảng của Karen Thornber có thể 13 thấy trong thời kỳ đầu, phê bình sinh thái chủ yếu tập trung vào những biểu đạt của văn chương về thế giới tự nhiên. Nhưng đến thời kỳ thứ hai phê bình sinh thái lại chủ yếu hướng đến những trải nghiệm của mỗi cá thể, đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề công bằng môi trường. Như vậy, có thể nói những nội dung học thuyết mà Karen Thornber đang thực hiện thực sự trở thành một trong những hướng đi hứa hẹn của phê bình sinh thái, đó là quan tâm đến vấn đề phê bình môi trường đặt trong nhiều mối quan hệ đa dạng và nhiều chiều, đồng thời cần mở rộng tới phạm vi nền văn học ngoài phương Tây như ở châu Á, châu Phi và Mĩ La tinh. Tiếp đến là bản dịch Những tƣơng lai của phê bình sinh thái và văn học được in trong cuốn East Asia Ecocriticisms.
Đây cũng là một tác phẩm của nhà nghiên cứu Karen Thornber. Với mong muốn đưa ra được giải pháp phù hợp đối với vấn đề môi trường nghiêm trọng hiện nay, thông qua việc phân tích các diễn ngôn, tác giả cho rằng “việc con ngƣời bị ảnh hƣởng nhƣ thế nào bởi môi trƣờng xung quanh mình và cả việc con ngƣời đã biến đổi môi trƣờng ở mọi nơi và nhƣ thế nào” [37] đã trở thành mối quan tâm trên toàn thế giới từ hàng ngàn năm nay. Vấn đề đó thu hút sự chú từ các văn bản văn chương đến văn bản truyền miệng và văn bản viết. Mối quan hệ giữa văn học và môi trường chỉ thực sự trở thành một trào lưu chính thống trong nghiên cứu văn học từ sau năm 1990.
Đây là thời điểm đánh dấu bước ngoặt quan trọng của hướng phê bình này. Khuynh hướng nghiên cứu đã chuyển từ quan điểm lấy sinh học làm trung tâm luận sang những vấn đề công bằng hoặc bất công bằng của môi trường cùng các vấn đề xã hội có liên quan. Đây thực sự là dấu mốc đáng chú ý mà Karen Thornber đã chỉ ra khi xác định sự ra đời của phê bình sinh thái. Khi bàn luận về văn học châu Á, tác giả Karen Thornber cho rằng văn học châu Á cũng khai thác mạng lưới chủ đề có tính toàn cầu, đó là nghèo đói, bệnh tật, chiến tranh, ô nhiễm và tàn phá môi trường… Hay nói cách khác, môi 14 trường là một mối quan tâm có liên hệ với văn hoá.
Tác giả còn đề cao “tinh thần chủ nghĩa thế giới sinh thái” và “ý thức hành tinh” trong nghiên cứu văn học. Nói tóm lại, những gợi dẫn của Karen Thornber đã nêu lên sự cấp thiết trong việc xây dựng nhận thức tốt hơn về mối quan hệ giữa con người với văn học và môi trường tự nhiên xung quanh. Tác giả Đỗ Văn Hiểu với công trình Phê bình sinh thái - cội nguồn và sự phát triển (2012), tác giả vừa dịch thuật vừa giới thiệu bao quát các tác gia và tác phẩm tiêu biểu ở phương Tây khi bàn về phê bình sinh thái; xác định biên giới khái niệm của phê bình sinh thái trong tương quan với các phạm trù sinh thái học khác. Theo tài liệu này, phê bình sinh thái là “Phê bình toàn bộ quan hệ giữa văn hóa và tự nhiên”, “thông qua văn học để thẩm định lại văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán nghiên cứu tƣ tƣởng, văn hóa, mô hình phát triển xã hội của loài ngƣời đã ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến thái độ và hành vi nhân loại đối với tự nhiên đã dẫn đến tình trạng xấu đi của môi trƣờng và nguy cơ sinh thái” [21].
Những dẫn nhập của tác giả là đóng góp kịp thời về phương diện truyền tải lý thuyết vào trong nước cho hoạt động nghiên cứu được mở rộng. Cũng trong năm 2012, Đỗ Văn Hiểu tiếp tục có bài viết Phê bình sinh thái - khuynh hƣớng nghiên cứu văn học mang tính cách tân (2012) [20]. Tác giả đã có những đánh giá tổng thể về các vấn đề mang tính đột phá và đổi mới trong nghiên cứu văn học. Bởi vậy, phê bình sinh thái đã có một bước ngoặt lớn, nhanh chóng trở thành một hướng nghiên cứu đầy mới mẻ và sáng tạo, dần khẳng định được dấu ấn và vị trí của mình so với nhiều lý thuyết văn học và các trào lưu nghiên cứu trước đó.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, vấn đề môi trường ngày càng có những ảnh hưởng xấu, phê bình sinh thái đã mang đến một cuộc cách tân về mặt tư tưởng từ “nhân loại trung tâm luận” sang “sinh thái trung tâm luận”. Điều đó làm cho văn học mang trong mình một sứ mệnh mới, vừa thuộc về văn hoá nhưng đồng thời cũng nhìn nhận lại văn hoá của nhân loại… Đồng thời với hoạt động dịch thuật và giới thiệu lý thuyết là các bài viết và các công trình nghiên cứu trong nước và phê bình sinh thái ở các cấp độ khác nhau: 15 Công trình Văn hoá sinh thái nhân văn của các tác giả Trần Lê Bảo chủ biên, Nguyễn Xuân Kính, Vũ Minh Tâm, Phạm Thị Ngọc Trầm, nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin, 2001, đã đưa ra một cái nhìn chung nhất về sinh thái và văn hoá sinh thái nhân văn; mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên và những hoạt động sống của con người trong môi trường văn hoá đó. Đặc biệt là vai trò chủ động tích cực của con người trong việc kiến tạo môi trường văn hoá nhân văn. Năm 2013, Báo người Lao động có bài viết Mùa xuân sinh thái và văn chƣơng của tác giả Huỳnh Như Phương, đã nêu lên vấn đề: “Sự suy thoái hệ sinh thái của một quốc gia không chỉ quy trách nhiệm cho những người quản lý đất nước mà cho cả sự thờ ơ của từng công dân, trong đó có những nhà văn”.
Tác giả đã lên tiếng cảnh báo về nạn tàn phá môi trường sống trên đất nước ta và nêu lên trách nhiệm của nhà văn trước thiên nhiên và cuộc sống, thiên chức của văn chương với môi trường sinh thái. Lí thuyết phê bình sinh thái trên thế giới * Chặng một từ 1972 đến 1991: Thời kì manh nha Trong thời kì manh nha và mới xuất hiện, phê bình sinh thái chưa thu hút được sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu. Trong giai đoạn này, lý thuyết phê bình sinh thái chưa có nhiều tài liệu và chưa có hệ thống rõ ràng. Phần lớn các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu và phát triển lí thuyết này bằng phương pháp liên ngành.
Tuy nhiên, các nghiên cứu của họ xuất hiện đơn lẻ, được coi là “những nghiên cứu trước tác về tự nhiên” với nhiều tên gọi khác nhau, đó là: sinh thái học con người, chủ nghĩa đồng quê, chủ nghĩa địa phương, phong cảnh trong văn học… Bởi vậy, có thể khẳng định rằng đây chính là giai đoạn manh nha hình thành của phê bình sinh thái. * Chặng hai từ 1992 đến 2004: Bùng nổ lí thuyết phê bình sinh thái Sau thời kì manh nha chậm chạp với những nghiên cứu đơn lẻ, phê bình sinh thái trong giai đoạn tiếp sau đã phát triển sâu rộng, nhanh chóng trở thành hiện tượng lí luận phê bình văn học mang tính toàn cầu. Liên tiếp các hội thảo diễn ra với sự bàn luận sôi nổi đến từ các nhà nghiên cứu, tất cả đều tập trung 16 vào vấn đề phân tích mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên. Có thể thấy, các chuyên luận về phê bình sinh thái không những được xây dựng thành hệ thống rõ ràng mà còn mang tính học thuật sâu sắc.
Đó là công trình của Laurence Coupe: Tuyển tập Nghiên cứu Xanh: từ Chủ nghĩa lãng mạn đến Phê bình sinh thái (The Green Studies Reader: From Romanticism to Ecocriticism, Routledge, 2000). Đó là công trình Vì một Thế giới lâm nguy: Văn học, Văn hóa, Môi trƣờng nƣớc Mĩ và các quốc gia khác (Writing for an Endangered World: Literature, Culture, and Environment in the United States and Beyond, 2001) của Lawrence Buell, là Cuốn Phê bình sinh thái (Ecocriticism, 2004) của Greg Garrard.