ĐẶT VẤN ĐỀ Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, việc đẩy mạnh và mở rộng các ngành công nghiệp ngày càng đƣợc quan tâm, nhiều khu công nghiệp, nhà máy đƣợc xây dựng và đƣa vào hoạt động. Bên cạnh những lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội, các ngành công nghiệp cũng phát sinh nhiều vấn đề môi trƣờng cần giải quyết, trong đó ô nhiễm môi trƣờng do nƣớc thải là một trong những mối quan tâm hàng đầu. Theo báo cáo về hiện trạng môi trƣờng, hiện nay vấn đề bảo vệ môi trƣờng chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Thực tế khoảng 90% cơ sở công nghiệp và các khu công nghiệp chƣa có hệ thống xử lý nƣớc thải, các cơ sở có hệ thống xử lý nƣớc thải thì hiệu suất xử lý vẫn chƣa hoàn toàn tối đa.
Khu công nghiệp Phú Nghĩa đƣợc xây dựng với điều kiện thuận lợi, một trong những khu công nghiệp có quy mô lớn tại Hà Nội. Hiện nay, khu công nghiệp Phú Nghĩa hiện có khoảng 60 doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất với nhiều mặt hàng và nhiều khu sản xuất. Chính vì vậy thành phần nƣớc thải của toàn khu công nghiệp đƣợc xử lý ngay tại nguồn phát sinh. Nhà máy xử lý nƣớc thải khu công nghiệp Phú Nghĩa công suất 3000 m3/ngày đêm đã đƣợc xây dựng và đƣa vào sử dụng từ tháng 4/2011, đảm bảo yêu cầu chất lƣợng kỹ thuật, cấp điện, cấp thoát nƣớc, xử lý nƣớc thải, thông tin liên lạc và hệ thống kho tàng bến bãi, góp phần hoàn thiện đồng bộ hạ tầng kỹ thuật theo đúng tiêu chí của khu công nghiệp điển hình của TP.
Hiện nay, đã có rất nhiều công nghệ để xử lý nƣớc thải. Các công nghệ chủ yếu là xử lý yếm khí và kị khí bằng các quá trình phân hủy các chất hữu cơ nhờ các vi sinh vật phân giải, xử lý một lƣợng lớn BOD và COD. Các công nghệ này đòi hỏi chi phí xây dựng và vận hành xử lý. Tuy nhiên, ozon là phải pháp tối ƣu nhất, Ozon xử lý đƣợc cả sáu vấn đề của nƣớc thải hiện nay.
Khí ozon khử màu, khử mùi, tiêu diệt vi khuẩn, nấm mốc hiệu quả. Nhƣng khi ozon kết hợp với ánh sáng mặt trời thì việc xử lý nƣớc lại đem lại hiệu 1 quả cao hơn rất nhiều. Ánh sáng mặt trời là nguồn năng lƣợng tự nhiên, nó bao gồm các tia sáng nhìn thấy (có các dải quang phổ: đỏ, da cam, vàng, lục, lam, chàm, tím), tia tử ngoại (còn lại là tia UV bao gồm UVA, UVB, UVC), và tia hồng ngoại. Các tia sáng này sẽ cung cấp năng lƣợng trong các phản ứng hóa học để xử lý nƣớc thải công nghiệp tối ƣu nhất.
Chính vì vậy, em xin chọn đề tài “Nghiên cứu khả năng xử lý nƣớc thải Khu công nghiệp Phú Nghĩa bằng hệ Ozon – ánh sáng mặt trời” để xử lý hiệu quả nƣớc thải công nghiệp, giúp kiểm soát, hạn chế, xử lý các chất ô nhiễm môi trƣờng, làm hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hƣởng tiêu cực, giữ gìn môi trƣờng xanh, sạch, đẹp cho thế hệ hiện tại và tƣơng lại, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững đất nƣớc. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các vấn đề ô nhiễm môi trƣờng chủ yếu ở các khu công nghiệp Nguồn phát sinh chất thải gây ô nhiễm tồn tại dƣới ba dạng: chất thải rắn, khí thải và nƣớc thải. Ngoài ra, trong quá trình sản xuất, các nhà máy còn gây ra các ô nhiễm khác nhƣ tiếng ồn, độ rung và khả năng gây cháy nổ.
Thực trạng ô nhiễm nước thải ở khu công nghiệp a. Khái niệm Nƣớc thải công nghiệp là nƣớc thải đƣợc sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp từ các công đoạn sản xuất và các hoạt động phục vụ cho sản xuất nhƣ nƣớc thải khi tiến hành vệ sinh công nghiệp hay hoạt động sinh hoạt của công nhân. Nƣớc thải công nghiệp rất đa dạng, khác nhau về thành phần cũng nhƣ lƣợng phát thải và phụ thuốc vào nhiều yếu tố: loại hình công nghiệp, loại hình công nghệ sử dụng, tính hiện đại của công nghệ, tuổi thọ của thiết bị, trình độ quản lý của cơ sở và ý thức cán bộ của nhân viên. Phân loại Nƣớc thải công nghiệp đƣợc chia làm 2 loại: Nƣớc thải sản xuất bẩn: là nƣớc thải sinh ra từ quá trình sản xuất sản phẩm, xúc rửa máy móc thiết bị, từ quá trình sinh hoạt của công nhân viên, loại nƣớc này chứa nhiều tạp chất, chất độc hại, vi khuẩn,.
Nƣớc thải sản xuất không bẩn là loại nƣớc sinh ra chủ yếu khi làm nguội thiết bị, giải nhiệt trong các trạm làm lạnh, ngƣng tụ hơi nƣớc cho nên loại nƣớc thải này thƣờng đƣợc quy ƣớc là nƣớc sạch. Thực trạng và phương pháp xử lý nước thải công nghiệp trên thế giới và Việt Nam. Ở Việt Nam Nƣớc thải là nguồn gây ô nhiễm chủ yếu của các khu công nghiệp, nƣớc thải từ các xí nghiệp có thành phần và tính chất khác nhau khi tập trung 3 lại và xả ra môi trƣờng đã làm ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng và rất khó để xử lý. Việc xử lý nƣớc thải khu công nghiệp ở nƣớc ta vẫn còn là vấn đề cấp bách.
Theo báo cáo hiện trạng môi trƣờng quốc gia năm 2009, khoảng 70% trong số 1 triệu m3 nƣớc thải/ngày với các thành phần chủ yếu là các chất lơ lửng, chất hữu cơ, chất dinh dƣỡng, dầu mỡ và 1 số kim loại nặng từ các KCN đã xả thẳng ra nguồn tiếp nhận không qua xử lý, đe dọa đến môi trƣờng sống, sức khỏe cộng đồng. Hiện nay ở nƣớc ta ƣớc tính đã có khoảng 60-70 nhà máy xử lý nƣớc thải tập trung tại các KCN-KCX, trong số 171 KCN-KCX đƣa vào hoạt động (tổng số có 223 KCN-KCX có quyết định thành lập). Cũng khoảng 60% số KCN và nhiều cụm công nghiệp, nhà máy, cơ sở sản xuất, làng nghề chƣa có trạm XLNT, có nơi đã xây dựng trạm XLNT nhƣng không hoạt động. Công nghệ XLNT thƣờng dùng là phƣơng pháp bùn hoạt tính và lọc sinh học.
Công nghệ xử lý nƣớc thải công nghiệp khá đa dạng và đặc biệt có xuất xứ từ nhiều nƣớc. Do đó các thiết bị cũng có xuất xử từ nhiều nguồn cung cấp. Kết quả sẽ gây nhiều khó khăn cho việc sửa chữa, thay thế khi cần thiết. Trên thế giới: Tái sử dụng nƣớc trong sản xuất công nghiệp bắt đầu tại Mỹ vào những năm 1940: nƣớc thải sau xử lý đƣợc khử trùng và sử dụng trong dây chuyền sản xuất thép.
Tại Thụy Điển, từ năm 1930 đến năm 1970, tổng lƣu lƣợng tái sử dụng nƣớc đã tăng 5-6 lần. Ở Israel, nƣớc thải công nghiệp và sinh hoạt đƣợc thu gom vào các hệ thống xử lý nƣớc thải; hơn 80% lƣợng nƣớc thải của các hộ gia đình đƣợc tái sử dụng, đạt tới 400 triệu m3 nƣớc/năm; khoảng ½ lƣợng nƣớc dùng để tƣới tiêu là nƣớc thải đã qua tái sử dụng. Tại Nhật Bản, do hạn chế về nƣớc nên ứng dụng tái sử dụng nƣớc từ rất sớm, nhờ vậy, năm 1995 đã có 89,6% dân số tại các thành phố lớn hơn 50.000 dân đƣợc sử dụng nƣớc sạch. Ở Singapore, năm 2003 đã xử lý và cung cấp nguồn nƣớc tái sử dụng với chất lƣợng khá cao (đáp ứng tiêu chuẩn sử dụng 4 cho ăn uống), cấp trực tiếp cho các ngành công nghiệp, các trung tâm thƣơng mại và tòa nhà.
Trung Quốc đã đạt đƣợc tỷ lệ 56% tái sử dụng nƣớc trên tổng số 82 thành phố lớn (1989) và tỷ lệ tái sử dụng cao nhất đạt 93%. Thành phần của một số loại nước thải công nghiệp a. Nƣớc thải dệt nhuộm Nƣớc thải dệt nhuộm có chứa nhiều thành phần các chất dinh dƣỡng nhƣ: hàm lƣợng COD và BOD trong nƣớc thải cao, độ pH mang tính kiềm cao, độ màu lớn do có nhiều màu thuốc nhuộm, hàm lƣợng chất rắn lơ lửng cao.1: Một số thông số về nƣớc thải dệt nhuộm ở Việt Nam [1] Thông số Lƣợng TSS BOD COD Độ màu nƣớc thải (mg/l) (mg/l) (mg/l) pH (Pt.Co) Mặt hàng (m3/tấn) Hàng bông 394 400-1000 70-135 350-600 8-10 350-600 dệt thoi Hàng pha 264-280 800-1100 90-400 570-1200 9-10 1120-1600 dệt kim Sợi 236 800-1300 90-130 210-230 9-11 180-540 Dệt len 114 420 120-130 400-500 9 260-300 (Nguồn: Trần Ngọc Phú, 2004) b. Nƣớc thải chế biến thực phẩm Đặc thù của ngành chế biến thực phẩm - Có lƣu lƣợng tƣơng đối lớn và ổn định - Chứa các hợp chất hữu cơ (thƣờng ít độc) có nguồn gốc từ động vật và thực vật - Chất thải hữu cơ có nguồn gốc từ thực vật chủ yếu là cacbonhydrat - Chất thải có nguồn gốc động vật có thành phần đa phần là protein và chất béo 5 - Có các thông số ô nhiễm đặc trƣng nhƣ hàm lƣợng TSS, BOD5, COD khá cao (cao gấp 10 – 20 lần quy chuẩn), vi khuẩn gây hại - Chứa hàm lƣợng Nitơ, Photpho khá cao - Một số nƣớc thải có hàm lƣợng muối cũng rất cao.2: Thành phần, tính chất nƣớc thải chế biến thực phẩm QCVN Giá trị đầu STT Thông số Đơn vị 40:2011/BTNMT vào Cột A Cột B 1 pH - 6,5 – 8,5 6–9 5,5 – 9 2 BOD5 mg/l 700 – 1500 30 50 3 COD mg/l 1000 – 2500 74 150 4 TSS mg/l 350 – 700 50 100 5 Tổng Nito mg/l 100 – 250 20 40 6 Tổng Photpho mg/l 10 – 50 4 6 7 Dầu mỡ mg/l 50 – 200 5 10 8 Tổng MNP/100 104 - 105 3.000 coliforms ml (Nguồn: Công nghệ xử lý nước thải chế biến thực phẩm – Công ty TNHH công nghệ môi trường Hòa Bình Xanh – năm 2016) Nhận xét: Nƣớc thải ngành chế biến thực phẩm phù hợp với công nghệ xử lý nƣớc thải bằng phƣơng pháp sinh học, ở một số ngành chế biến thực phẩm có các thông số ô nhiễm cao nhƣ: giết mổ gia xúc, chế biến hải sản, chế biến nƣớc mắm … có thể kết hợp với phƣơng pháp xử lý hóa lý nhƣ: keo tụ tạo bông, tuyển nổi DAF, tiền xử lý bằng phƣơng pháp cơ học nhƣ: song chắn rác tinh, bể lắng cát … c.
Nƣớc thải sản xuất giấy Nƣớc thải sản xuất giấy có hàm lƣợng SS, BOD, COD khá cao.3: Thành phần nƣớc thải Nguyên liệu từ Nguyên liệu là giấy thải Chỉ tiêu Đơn vị gỗ mềm Sản phẩm giấy Sản phẩm giấy Sản phẩm giấy carton vệ sinh bao bì pH - 6,9 6,8 – 7,2 6,0 – 7,4 Màu Pt.550 0 Nhiệt độ C - 28 – 30 28 – 30 SS mg/l 4.085 Ntổng mg/l 43,4 0,0 – 3,6 0,7 – 4,2 Ptổng mg/l 2,0 - - SO42- mg/l 116 - - ( Nguồn: Tổng cục Môi trường, 2011) 1. Một số phƣơng pháp xử lý nƣớc thải [2] 1.