MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Cây ngô (Zea mays L.) được biết đến với những giá trị rất thiết thực trong cuộc sống. Ngô được dùng làm lương thực, thức ăn chăn nuôi. Ngô đã trở thành cây đảm bảo an ninh lương thực, góp phần chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hướng trồng trọt sang chăn nuôi, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và sản phẩm hàng hoá cho xuất khẩu ở nhiều nước và trên phạm vi toàn thế giới. Tuy chỉ có 17% sản lượng ngô được dùng làm lương thực nhưng ngô đã góp phần nuôi sống khoảng 1/3 dân số thế giới.
Ở Ấn Độ có tới 90% sản lượng ngô, ở Philippin 66% được dùng làm lương thực cho con người (Nguyễn Đức Lương và cs, 2000)[8]. Ngoài ra, ngô còn là nguyên liệu chính cho các nhà máy chế biến thức ăn gia súc tổng hợp, cho công nghiệp sản xuất cồn, tinh bột, dầu, bánh kẹo (Ngô Hữu Tình, 2003)[12]. Ở các nước phát triển có nền chăn nuôi công nghiệp lớn, ngô là loại thức ăn lý tưởng cho nhiều loại gia súc, gia cầm, là nguồn thức ăn chủ lực để chăn nuôi lấy thịt, trứng, sữa, cá… Ở nước ta, sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay đang đứng trước rất nhiều thách thức: diê ̣n tić h đất nông nghiệp bi ̣thu he ̣p do t ốc độ đô thị hóa gia tăng, dân số tăng nhanh, thành phần kinh tế thay đổi theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp… Trước những khó khăn đó, vấn đề đặt ra là làm thế nào để đảm bảo an ninh thực và phát triển kinh tế cho xã hội? n 2 Đã có rất nhiều các giải pháp đưa ra để tập trung giải quyết cho câu hỏi này, trong đó có viê ̣c phát triể n sản xuấ t ngô. Hiê ̣n nay , sản lượng ngô của Việt Nam đã đạt 5.190,9 nghìn tấn nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng trong nước.
Năm 2013, kim ngạch nhập khẩu ngô từ các thị trường về Việt Nam là 2.979 tấn và 6 tháng đầu năm 2014 cả nước đã phải nhập 2. Yếu tố hạn chế chính đến sản xuất ngô ở Việt Nam là điều kiện tự nhiên không ưu đãi: đất đai bạc màu, thời tiết diễn biến khắc nhiệt: lũ lụt, hạn hán, thiên tai thường xuyên xảy ra,. Bên cạnh đó, tập quán canh tác của người dân còn lạc hậu, việc tiếp nhận kỹ thuật mới còn hạn chế. Đặc biệt, chưa có bộ giống ngô tiềm năng năng suất cao, có khả năng chống chịu tốt phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng, với phương thức canh tác của địa phương.
Chính vì vậy để có cơ sở chọn tạo giống ngô lai mới, năng suất cao, chống chịu tốt phục vụ cho sản xuất chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của giống ngô lai mới tại Thái Nguyên ”.Mục đích yêu cầu của đề tài 1.Mục đích Chọn được giống ngô lai có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, thích hợp với điều kiện canh tác của tỉnh Thái Nguyên. Yêu cầu - Theo dõi các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống ngô thí nghiệm. - Nghiên cứu các đặc điểm hình thái và sinh lý (chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, số lá/cây, chỉ số diện tích lá…) của các giống thí nghiệm. - Theo dõi khả năng chống chịu của các giống ngô tham gia thí nghiệm (khả năng chống chịu sâu bệnh, chống đổ, gãy…).
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1. Ý nghĩa khoa học - Đề tài là một trong những cơ sở quan trọng để chọn được giống ngô có năng suất cao, phẩm chất tốt và thích nghi với điều kiện sinh thái của tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc - Các kết quả nghiên cứu của đề tài là luận cứ quan trọng phục vụ cho học tập và đánh giá các đặc điểm nông học ở cây ngô.Ý nghĩa thực tiễn Là cơ sở đề xuất các giống ngô phù hợp với điều kiện sản xuất, điều kiện sinh thái Thái Nguyên. Góp phần làm đa dạng tập đoàn giống ngô lai ở Việt Nam. n 4 Phầ n 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.Cơ sở khoa học của đề tài Trong sản xuất giống tốt góp phần nâng cao được hiệu quả kinh tế, giảm chi phí sản xuất, tăng sản lượng và chất lượng cây trồng.
Các nhà khoa học ước tính khoảng 30% đến 50% mức tăng năng suất hạt của các cây lương thực trên thế giới là nhờ việc đưa vào sản xuất những giống tốt. Mỗi giống ngô có đặc điểm thực vật học, yêu cầu ngoại cảnh khác nhau. Vì vậy, để phát huy được những đặc tính tốt của giống trước khi đưa ra sản xuất, cần đánh giá đầy đủ, khách quan khả năng thích nghi của giống với vùng sinh thái cũng như khả năng sinh trưởng phát triển, khả năng chống chịu với những điều kiện bất lợi. Để có những giống ngô mới đáp ứng được yêu cầu của sản xuất của tỉnh Thái Nguyên, đề tài đã tiến hành đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và chống chịu sâu bệnh của các giố ng thí nghiê ̣m.Tình hình sản xuấ t ngô trên thế giới và Việt Nam 2.Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Trong các cây lương thực chiń h ngô là cây trồng có tốc độ tăng trưởng cao nhất về năng suất do không ngừng cải tiến các biện pháp kĩ thuật canh tác và đặc biệt ứng dụng những thành tựu kĩ thuật mới trong chọn tạo giống.
Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2005-2013 Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2005 147,53 48,37 713,62 2006 148,96 48,09 706,84 2007 158,31 49,90 789,93 2008 162,87 50,98 830,26 2009 158,84 51,63 820,15 2010 163,82 51,87 849,79 2011 171,78 51,55 885,29 2012 177,00 49,44 875,10 2013 184,19 55,2 1.016,74 Nguồn: FAO, 2015[18] Theo số liê ̣u thống kê của (FAO) năm 2005 diện tích trồng ngô của thế giới là 147,53 triệu ha đến năm 2013 tăng lên đa ̣t 184,19 triệu ha. Năng suất ngô năm 2013 đạt 55,2 tạ/ha, tăng 6,83 tạ/ha so với năm 2005. Do trình độ khoa học kỹ thuật, tập quán canh tác, điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội mỗi châu lục khác nhau, nên diện tích, năng suất và sản lượng ngô của các vùng lãnh thổ trên thế giới có sự khác biệt. Điều đó, được thể hiện qua bảng số liệu 2.
Tình hình sản xuất ngô ở một số châu lục năm 2013 Diện tích Năng suất Sản lƣợng Châu lục (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Châu Mỹ 70,70 73,9 522,63 Châu Á 59,39 51,2 304,31 Châu Âu 18,97 61,9 117,45 Châu Phi 35,02 20,4 71,61 n 6 Nguồn: FAO, 2015[18] Trong các châu lục thì châu Mỹ luôn dẫn đầu về diện tích, năng suất cũng như sản lượng. Năm 2013, năng suất ngô của Châu Mỹ đạt 73,9 tạ/ha, cao hơn 33,9% so với năng suất trung bình của thế giới, sản lượng đạt 522,63 triệu tấn, chiếm 51,4% sản lượng ngô toàn thế giới. Châu lu ̣c đứng vi ̣trí thứ 2 là châu Á năng suất đạt 51,2 tạ/ha và sản lượng đạt 304,31 triệu tấn. Châu Phi là châu lục có năng suất và sản lượng thấp nhất (năng suấ t đa ̣t 20,4 tạ/ha).
Dự báo đến năm 2020, nhu cầu ngô thế giới tăng 45% so với nhu cầu năm 1997, chủ yếu tăng cao ở các nước đang phát triển (72%), trong đó các nước khu vực Đông Á được dự báo có nhu cầu tăng mạnh nhất vào năm 2020 (85%). Sở dĩ nhu cầu ngô tăng mạnh ở các nước này là do dân số tăng, thu nhập bình quân đầu người tăng, dẫn đến nhu cầu về lương thực, thực phẩm tăng mạnh, từ đó đòi hỏi khối lượng ngô rất lớn để phát triển chăn nuôi. Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam Ngô được đánh giá là cây trồng có vai trò hết sức quan trọng trong cơ cấu cây trồng ở nước ta. Vào những năm 1960 năng suất ngô của nước ta chỉ đạt trên 1 tấn/ha với diện tích hơn 200 nghìn ha, đến đầu những năm 1980 năng suất cũng chỉ đạt 1,1 tấn/ha và sản lượng hơn 400.000 tấn do vẫn trồng các giống ngô địa phương với kỹ thuật canh tác lạc hậu.
Từ những năm 1980, nhờ hợp tác với Trung tâm cải tạo Ngô và Lúa mì Quốc tế (CIMMYT), nhiều giống ngô cải tiến đã được đưa vào trồng ở nước ta, góp phần nâng cao năng suất lên gần 1,5 tấn vào đầu những năm 1990. Do mở rộng diện tích trồng ngô lai trong sản xuất, nên đến năm 2013 năng suấ t ngô của nước ta đã đa ̣t 44,3 tạ/ha, trong đó có trên 95% diện tích trồng ngô lai. n 7 Đến nay việc tăng cường chọn tạo phát triển các giống ngô lai mới và áp dụng kỹ thuật canh tác phù hợp đã giúp năng suất ngô nước ta tăng liên tục với tốc độ nhanh hơn so với năng suất trung bình của thế giới. Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam giai đoạn 1990-2013 Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (1.000 tấn) 1990 432,0 15,5 171,0 1993 496,5 17,8 882,2 1995 556,8 21,1 1177,2 2000 730,2 27,5 2005,9 2005 1052,6 36 3787,1 2008 1125,9 40,2 4531,2 2010 1126,4 40,9 4606,8 2011 1121,2 43,1 4835,7 2012 1118,2 42,9 4803 2013 1172,6 44,3 5193,5 Nguồn: FAO, 2015[18] Cây ngô đang ngày càng được chú trọng ở nước ta với diện tích ngày càng được mở rộng.
Năm 1990, diện tích trồng ngô ở nước ta là 432.000 ha nhưng đến năm 2013 diện tích đạt 1172,6 nghìn ha. Mặc dù năng suất và sản lượng ngô tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng trong nước, hàng năm nước ta vẫn phải nhập khẩu ngô hạt cho chăn nuôi. Kim ngạch nhập khẩu ngô trong 7 tháng đầu năm 2014 đã tăng 137,2% so với cùng kỳ năm trước, với gần 2,7 triệu tấn ngô, tương đương giá trị 681 triệu USD. Thực tế, nhập khẩu ngô đã tăng vọt từ năm 2013 với 2,18 triệu tấn, trị giá 675 triệu USD, tăng 35,5% so với cả năm 2012 (Cục xúc tiến thương ma ̣i, 2013)[5].
Tình hình nhập khẩu ngô ở Việt Nam năm 2012-2013 Năm 2013 so năm Năm 2012 Năm 2013 2012(%) Nƣớc Lƣợng Lƣợng Trị giá Lƣợng Trị giá Trị giá (1000 (1000 tấn) (1000 USD) (1000 tấn) (1000 USD) (1000 USD) tấn) Tổng 1614.285 +13,32 -6,73 Nguồn : Tổng cục hải quan, năm 2014[14] Trong năm 2013, Việt Nam nhập khẩu ngô từ 7 thị trường, trong đó Ấn Độ vẫn là thị trường lớn nhất cung cấp ngô cho Việt Nam, với 1.681 tấn, trị giá 304.430 USD, tăng 226,85% về lượng và tăng 205,44% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Tiếp theo là Braxin, với 779.836 tấn, trị giá 212.757 USD, tăng gấp 11 lần về lượng và tăng 10 lần về trị giá.