Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Giống là yếu tố quyết định hàng đầu về năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp. Trong những thập niên qua, nhờ các biện pháp lai tạo, xử lý đột biến tạo đa bội thể và chọn lọc, các nhà nông học đã có nhiều thành công trong việc chọn tạo ra những giống lúa có năng suất cao, ổn định, chất lượng tốt, chống chịu với điều kiện ngoại cảnh, sâu bệnh góp phần tăng năng suất đáng kể. Tuy nhiên, các giống cây trồng có tính khu vực rất cao đối với các vùng sinh thái nhất định.
Một giống được đánh giá là tốt ở điểm này, nhưng tỏ ra không thích hợp với nơi khác. Do đó, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa chọn tạo giống, khảo nghiệm, so sánh và đánh giá để tìm ra bộ giống lúa mới có tiềm năng năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt thích hợp với từng vùng sinh thái khác nhau. Ngày nay, sản xuất lúa muốn phát triển theo hướng hàng hoá với chất lượng cao, quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu thị trường, cần phải thay thế các giống cũ, năng suất/chất lượng thấp bằng các giống mới năng suất/chất lượng cao, chống chịu tốt sẽ góp phần phát huy hiệu quả kinh tế của giống. Cây lúa chịu ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện thời tiết, khí hậu cũng như đất đai.
Tùy từng giống cụ thể mà yêu cầu điều kiện sinh thái khác nhau. Do vậy mà việc nghiên cứu xác định giống thích hợp nhằm đạt năng suất/chất lượng và hiệu quả kinh tế cao nhất, để cây trồng phát triển trong điều kiện thuận lợi nhất để phát huy hết tiềm năng của giống là hết sức cần thiết. Hiện nay, một số giống lúa mới cho năng suất và chất lượng cao đã được công nhận và đang phát triển phổ biến trong sản xuất như: Giống lúa LTH31 (là giống lúa thơm do Bộ môn chọn tạo giống lúa chất lượng và đặc sản – Trung tâm Nghiên cứu và phát triển lúa thuần, Viện Cây lương thực và cây thực Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 phẩm); Giống lúa Koshihikari (giống lúa thuần chất lượng có nguồn gốc từ Nhật Bản); Giống lúa QJ4 ( là giống lúa thuần chất lượng có nguồn gốc từ Nhật Bản); Giống lúa Hương Việt 3 (Do TS. Vũ Hồng Quảng, Viện nghiên cứu và Phát triển cây trồng, Học viện Nông nghiệp Việt Nam chọn tạo); Giống lúa Đài thơm 8 ( giống lúa thơm chất lượng cao do Công ty Giống cây trồng miền Nam (SSC) nghiên cứu, lai tạo và chọn lọc; Công ty Cổ phần Giống cây trồng Trung ương phân phối); Giống lúa RVT (Công ty Cổ phần Giống cây trồng Trung ương sở hữu sản xuất và kinh doanh).
Tuy nhiên, những giống mới kể trên chưa được gieo trồng trên địa bàn huyện Mỹ Đức, vì vậy cần triển khai nghiên cứu khả năng thích ứng của giống lúa mới tại địa bàn của huyện. Xuất phát từ những cơ sở khoa học trên, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài này. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới Theo thống kê của tổ chức lương thực thế giới FAO (2017), cây lúa chiếm một vị trí quan trọng trên Thế giới, đặc biệt là ở khu vực Châu Á.
Hiện có 114 nước trên thế giới trồng lúa, nhưng chỉ 18 nước có diện tích sản xuất lớn hơn 1.000 ha và đều tập trung ở Châu Á, bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Bangladesh, Thái Lan, Myanmar, Việt Nam, Philippines. Đồng thời với việc gia tăng về diện tích thì năng suất lúa cũng không ngừng tăng nhanh nhờ việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong chọn giống và thâm canh, năng suất bình quân trên thế giới đã tăng thêm khoảng 1,4 tấn/ha trong vòng 24 năm từ năm 1961 đến 1985, đặc biệt sau cuộc cách mạng xanh của thế giới vào những năm 1965 - 1970, với sự ra đời của các giống lúa thấp cây, ngắn ngày, không cảm quang, mà tiêu biểu là giống lúa IR5, IR8. Diện tích trồng lúa ở châu Á dẫn đầu về thế giới, nhưng năng suất lúa không cao, đạt trên 5 tấn/ha chỉ có ở Việt Nam và Trung Quốc. Từ năm 1990 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 đến nay, năng suất lúa thế giới vẫn liên tục tăng và trung bình đạt 4,38 tấn/ha năm 2010.
Mặc dù năng suất lúa ở các nước Châu Á còn thấp, nhưng do có diện tích sản xuất lớn nên Châu Á vẫn là khu vực đóng góp lúa gạo chủ yếu và quan trọng trên thế giới (trên 90%). Theo dự đoán của chuyên gia dân số thế giới thì dân số thế giới đến năm 2030 là 8,47 tỷ người. Với dân số như vậy thì vấn đề an ninh lương thực luôn là vấn đề cấp bách, trong đó, lúa đóng một vai trò quan trọng số một. Nhu cầu gạo nhập khẩu của thị trường trên thế giới cũng tương đối khác nhau, châu Âu, châu Mỹ thường có nhu cầu nhập khẩu gạo chất lượng cao, trong khi đó châu Phi lại có nhu cầu nhập khẩu gạo chất lượng trung bình và thấp.
Trong những năm qua, Inđônêxia là nước luôn có nhu cầu nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới. Hiện nay, lượng gạo trao đổi trên thị trường thế giới chiếm tỷ trọng thấp trong tổng cung (dưới 4%) và giá gạo chịu ảnh hưởng rất lớn vào lượng mua vào của một số nước nhập khẩu chính như: Inđônêxia, Philippine, Trung Quốc,. Năm 2035, tổng sản lượng thóc phải tăng thêm so với bây giờ là 114 triệu tấn. Năng suất trung bình có xu hướng đứng lại (hoặc tăng rất chậm).
Nhưng có 3 điều đáng lo: đất lúa mất dần, người lao động trồng lúa giảm dần, nước tưới cho lúa thiếu, khiến cho mục tiêu tăng thêm 114 triệu tấn: trở nên vô cùng khó khăn. Điều đáng lo nữa là chỉ có ít hơn 5% vật liệu di truyền trong ngân hàng gen của IRRI được sử dụng trong các chương trình cải tiến giống lúa (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2014). Do xác định được tầm quan trọng của cây lúa trong nền kinh tế - xã hội nên nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là những nước đang phát triển đặc biệt quan tâm chú trọng đẩy mạnh sản xuất phát triển cây lúa, những năm gần đây khi khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ đã áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, làm cho diện tích được mở rộng, năng suất sản lượng lúa tăng nhanh, điều đó thể hiện qua bảng 2. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.
Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng lúa trên thế giới Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) ( triệu tấn) 2010 161,564 43,402 701,228 2011 162,713 44,348 721,604 2012 162,264 45,174 733,013 2013 164,262 44,996 739,119 2014 162,717 45,569 741,477 2015 160,762 46,036 740,084 2016 159,807 46,366 740,961 2017 167,249 46,019 769,657 Nguồn: FAOSTAT, 2019 Qua bảng số liệu trên ta thấy: Diện tích trồng lúa tuy có biến động giữa các năm nhưng mức độ tăng giảm không nhiều, cụ thể; - Từ năm 2010-2012, diện tích trồng lúa trên Thế giới vẫn có xu hướng tăng lên nhưng tốc độ tăng chậm và không ổn định. - Năm 2013, diện tích tăng vọt hẳn lên 164,262, tăng sấp xỉ 2 triệu ha so với những năm trước. - Năm 2014, diện tích trồng lúa trên thế giới giảm, gần trở về mức diện tích của 2012, 2011. Nguyên nhân trong giai đoạn này, việc mở rộng diện tích trồng lúa trên Thế giới có nhiều hạn chế do quỹ đất canh tác hầu như đã được khai thác.
Bên cạnh đó hầu hết các nước có diện tích trồng lúa lớn đều là các nước đang phát triển, quá trình xây dựng, phát triển đô thị, quá trình phát triển các ngành sản xuất khác đặc biệt là công nghiệp đã và đang lấy đi một diện tích lớn đất sản xuất nông nghiệp, làm cho diện tích đất sản xuất nông nghiệp, nhất là diện tích sản xuất cây lúa có xu hướng giảm trong những năm qua. Ngoài ra, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 9 do hậu quả của sự biến đổi khí hậu toàn cầu, các thiên tai, các kiểu thời tiết bất thường như lũ, hạn hán, ngập úng, do quá trình sản xuất ở nhiều nước gặp phải thiên tai và dịch hại.… bên cạnh đó hình việc hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả cũng đang trực tiếp làm cho diện tích canh tác lúa trên Thế giới bị thu hẹp. - Năm 2015 – 2016, diện tích trồng lúa trên thế giới có xu hướng giảm dần. Tuy nhiên năng suất bình quân tạ/ha có xu hướng tăng 0,79 tạ/ha so với năm 2014, nguyên nhân do áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất.
- Năm 2017, diện tích trồng lúa trên thế giới lại có xu hướng tăng lên và tăng hơn hẳn so với 8 năm trở lại đây, Đặc biệt tăng hơn 7,4 triệu ha so với năm 2016. Năng suất bình quân của thế giới tăng liên tục qua các năm. Năm 2010, năng suất lúa đạt 43,402 tạ/ha, đến năm 2016 năng suất lúa đạt cao nhất là 46,366 tạ/ha, tăng 2,96 tạ/ha so với năm 2010. Năm 2017 năng suất lúa giảm nhẹ so với năm 2016, đạt 46,019 tạ/ha.
Sản lượng lúa trên thế giới tăng liên tục qua các năm. Năm 2010 sản lượng lúa của Thế giới đạt 701,228 triệu tấn. Năm 2017, tuy năng suất lúa giảm nhẹ so với năm 2016 nhưng do diện tích trồng lúa tăng nên sản lượng đạt cao nhất là 769,657 triệu tấn, tăng 68,429 triệu tấn so với năm 2010. Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của các châu lục năm 2017 Diện tích Năng suất Sản lượng Các châu lục (triệu ha) (tạ/ha) ( triệu tấn) Thế giới 167,249 46,019 769,657 Châu Á 145,539 47,588 692,590 Châu Âu 0,642 63,01 4,051 Châu Mỹ 6,013 59,196 35,634 Châu Phi 14,959 24,439 36,560 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 10 Châu Đại Dương 0,08744 93,792 0,820 Nguồn: FAOSTAT,2019 Qua bảng 2.2 cho thấy: Diện tích canh tác lúa toàn thế giới năm 2017 là 167,249 triệu ha, năng suất bình quân 46,019 tạ/ha, sản lượng 769,657 triệu tấn.
Trong đó Châu Á là vùng đông dân cư và cũng là vùng có diện tích trồng lúa cao nhất 145,539 triệu ha, năng suất bình quân đạt 47,588 tạ/ ha, sản lượng đạt 692,590 triệu tấn, chiếm 89,98% lượng gạo trên thế giới.