MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chăn nuôi gia cầm ở nước ta có truyền thống lâu đời, đã và đang góp phần quan trọng trong cải thiện kinh kế của hàng triệu nông dân. Hàng năm, ngành chăn nuôi gia cầm cung cấp 18 - 21% trong tổng khối lượng thịt các loại, đứng thứ hai sau thịt lợn (thịt lợn chiếm vị trí số 1 với tỷ lệ 71 - 76%), bên cạnh đó chăn nuôi gia cầm còn cung cấp nguồn thực phẩm có dinh dưỡng khá hoàn chỉnh đó là trứng gia cầm. Vốn có nhiều truyền thống trong chăn nuôi, song hành với tiến độ hội nhập của cả nước, ngành chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng ở Việt Nam ngày càng phát triển.
Tuy nhiên, với tình hình chăn nuôi diễn biến phức tạp, dịch bệnh nhiều, do yếu tố thích nghi nên một số giống gà nhập ngoại thường có sức chống chịu bệnh tật kém và một số chưa phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Trong điều kiện đó một số giống gia cầm địa phương đang được chú trọng khôi phục và phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu đó. Gà Lông Xước là giống gà bản địa mới được phát hiện ở một số huyện như: Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh - tỉnh Hà Giang. Giống gà này có đặc điểm: lông xước ngược toàn thân như lông nhím; hình dáng thon, nhỏ, nhanh nhẹn, chắc khỏe.
Chúng có chất lượng thịt ngon, có khả năng chịu đựng thời tiết khắc nghiệt ở vùng núi cao của tỉnh Hà Giang. Trọng lượng lớn nhất của gà Lông Xước là 4 - 5kg và mỗi năm một gà mái có thể đẻ 50 - 60 quả trứng. Qua một số nghiên cứu cho thấy, giống gà này có khả năng thích nghi và chất lượng thịt tốt nhưng hiện mới chỉ được nuôi với số lượng ít và đang có nguy cơ bị pha tạp nên cần được quan tâm bảo tồn nguồn gen, nhân giống. Xuất phát từ thực tế trên, em tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của gà Lông Xước đàn hạt nhân thế hệ 2 tại Trường Đại m 2 học Nông Lâm Thái Nguyên” để có cơ sở khoa học đánh giá về khả năng sinh trưởng của giống gà này.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Xác định và đánh giá được khả năng sinh trưởng của gà Lông Xước đàn hạt nhân thế hệ 2 được nuôi giữ tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. - Làm cơ sở xây dựng tiêu chuẩn cơ sở về giống gà Lông Xước hạt nhân tại địa phương trên cơ sở các kết quả nghiên cứu và theo dõi. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về khả năng sinh trưởng của gà Lông Xước đàn hạt nhân thế hệ 2.
Ý nghĩa thực tiễn Các số liệu thu được phục vụ khai thác, phát triển nguồn gen giống gà; đồng thời làm cơ sở cho định hướng công tác giống sau này. Kết quả nghiên cứu làm rõ về đặc điểm sinh học, sức sản xuất của gà Lông Xước nuôi tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên; từ đó làm cơ sở cho phát triển quy mô giống gà này cho phù hợp với điều kiện miền núi. m 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Một số đặc điểm sinh học của gia cầm 2. Các dẫn xuất của da gia cầm Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia cầm được nuôi trong điều kiện cụ thể, thực chất là nghiên cứu đặc điểm di truyền số lượng và ảnh hưởng của những tác động môi trường lên các tính trạng đó. Hầu hết các tính trạng về năng suất của vật nuôi như sinh trưởng, sinh sản, mọc lông, tăng trưởng thịt, đẻ trứng đều là các tính trạng số lượng. Cơ sở di truyền của các tính trạng số lượng cũng do các gen nằm trên nhiễm sắc thể qui định.
Theo Nguyễn Ân và cs (1983) [1] các tính trạng sản xuất là các tính trạng số lượng, thường là các tính trạng đo lường như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, sản lượng trứng, khối lượng trứng v.v… Các tính trạng số lượng thường bị chi phối bởi nhiều gen, các gen này hoạt động theo 3 phương thức: - Công gộp (A) hiệu ứng tích lũy của từng gen - Trội (D) hiệu ứng tương tác giữa các gen cùng một locus - Át gen (I) hiệu ứng do tương tác của các gen không cùng 1 locus Hiệu ứng cộng gộp (A) là các giá trị giống thông thường (general breeding value) có thể tính toán được, có ý nghĩa trong chọn lọc nhân thuần. Hiệu ứng trội (D) và át gen (I) là những hiệu ứng không cộng tính và là giá trị giống đặc biệt (special breeding value) có ý nghĩa đặc biệt trong các tổ hợp lai. Ở các tính trạng số lượng, giá trị kiểu hình cũng do giá trị kiểu gen (kiểu di truyền) và sai lệch môi trường qui định. Những giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minon gen) cấu tạo thành.
Đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp lại sẽ m 4 ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, tính trạng sản xuất là một ví dụ (Nguyễn Văn Thiện, 1998) [15]. Khác với các tính trạng chất lượng, tính trạng số lượng chịu ảnh hương rất lớn bởi các yếu tố tác động của ngoại cảnh. Tuy các điều kiện bên ngoài không thể làm thay đổi cấu trúc di truyền nhưng nó tác động làm phát huy hay kìm hãm việc biểu hiện các hoạt động của các gen. Các tính trạng số lượng được qui định bởi kiểu gen và chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện ngoại cảnh, mối tương quan đó được biểu thị như sau: P=G+E Trong đó: P là giá trị kiểu hình, G là giá trị kiểu gen, E là sai lệch môi trường.
Giá trị kiểu gen (G) hoạt động theo ba phương thức: cộng gộp, trội và át gen. Từ đó, G cũng có thể biểu thị theo: G=A+D+I Trong đó: G là giá trị kiểu gen, A là giá trị cộng gộp, D là giá trị sai lệch trội, I là giá trị sai lệch tương tác. Ngoài ra, các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường. Có 2 loại môi trường chính: - Sai lệch môi trường chung (Eg) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi.
Loại yếu tố này có tính chất thường xuyên như: thức ăn, khí hậu, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng. - Sai lệch môi trường riêng (Es) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể trong nhóm vật nuôi, hoặc ở một giai đoạn nhất định trong cuộc đời con vật. Loại này có tính chất không thường xuyên. Nếu bỏ qua mối tương tác giữa di truyền và ngoại cảnh, quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G) và môi trường (E) của một cá thể được xác định bởi kiểu gen từ 2 locut trở lên có giá trị là: P = G + E.
Trong đó: G = A + D + I; E = Eg + Es, suy ra P = A + D + I +Eg + Es m 5 Trên cơ sở đó cho thấy, các giống gia cầm, cũng như các sinh vật khác, con cái đều nhận được từ bố mẹ một số gen quy định tính trạng số lượng nào đó. Tính trạng đó được xem như nhận từ bố mẹ một khả năng di truyền, nhưng khả năng đó phát huy được hay không còn phụ thuộc vào môi trường sống như: chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý,. Người ta có thể xác định các tính trạng số lượng qua mức độ tập trung (g), mức độ biến dị (CV%), hệ số di truyền của các tính trạng (h 2), hệ số lặp lại của các tính trạng (R), hệ số tương quan (r) giữa các tính trạng, v. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà - Ảnh hưởng của dòng, giống Các giống gà khác nhau thì có khả năng sinh trưởng khác nhau, giống gà hướng thịt có khả năng sinh trưởng lớn hơn giống kiêm dụng và chuyên trứng.
Kết quả nghiên cứu Nguyễn Huy Đạt và cs (1996) [3] trên gà broiler của 4 giống AA, Lohmann, Isavedette và Avian cũng cho thấy gà broiler Lohmann và Isavedette có tốc độ sinh trưởng cao hơn so với gà broiler AA và Avian từ 6,58 - 9,75%. - Ảnh hưởng của tính biệt Trong cùng một dòng (giống), giới tính khác nhau thì cũng có khả năng sinh trưởng khác nhau, theo Jull 1923 gà trống thường có tốc độ sinh trưởng cao hơn so với gà mái 24 - 32%, tác giả cũng cho biết sự sai khác này do gen liên kết với giới tính gây nên, những gen này ở gà trống (2 nhiễm sắc thể giới tính) hoạt động mạnh hơn ở gà mái (1 nhiễm sắc thể giới tính). - Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng Sinh trưởng là tổng số của sự phát triển các phần của cơ thể như: thịt, xương, da. Tỷ lệ sinh trưởng các phần này phụ thuộc vào độ tuổi, tốc độ sinh trưởng và phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng (Chambers J.
Trong cùng một dòng (giống) chế độ dinh dưỡng khác nhau cũng cũng cho khả năng sinh trưởng khác nhau. Tiêu tốn thức ăn TTTA/kg tăng khối lượng là tỷ lệ chuyển hóa thức ăn để đạt được tốc độ tăng khối lượng. Vì tăng khối lượng là một chức năng chính của quá trình chuyển hóa thức ăn hay nói cách khác TTTA là hiệu suất giữa thức ăn/kg tăng khối lượng. TTTA/kg tăng khối lượng càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại.
Đối với gà thịt, thức ăn ăn vào một phần để duy trì và một phần dùng để tăng khối lượng cơ thể. Chi phí thức ăn có thể chiếm tới 70% giá thành sản phẩm. Khi hai cơ thể có cùng một khối lượng xuất phát để đạt được một khối lượng nhất định nào đó thì cơ thể nào có sinh trưởng chậm hơn sẽ mất thời gian dài hơn, do đó sẽ phải mất năng lượng duy trì cao hơn so với cơ thể tăng khối lượng nhanh, điều đó dẫn đến TTTA cao. Mặt khác tăng khối lượng nhanh thì cơ thể đồng hóa và dị hóa tốt hơn, khả năng trao đổi chất tăng cường hơn, làm cho hiệu quả sử dụng thức ăn cao dấn đến TTTA thấp.
Chamber và cs (1990) [23] đã xác định được hệ số tương quan di truyền khối lượng cơ thể và tăng trưởng với TTTA là rất cao (0,5 - 0,9), còn tương quan di truyền giữa sinh trưởng và chuyển hóa thức ăn là âm và thấp từ - 0,2 đến - 0,8.