CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Lai giống và ưu thế lai 1. Lai tạo Lai giống là một phương pháp nhân giống trong chăn nuôi, nhằm kết hợp những đặc trưng, đặc tính của bố mẹ vào cơ thể mới.
Lai giống là một phương pháp nhằm để tái tổ hợp các kiểu gen của bố mẹ nhằm tạo ra tổ hợp lai mới, từ đó chọn lựa, bồi dưỡng tạo ra giống mới. Theo nghĩa rộng lai giống là cho giao phối giữa các cá thể có kiểu gen khác nhau. Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [43], lai giống sẽ tạo ra con lai có nhiều ưu điểm mới, nâng cao tầm vóc, khả năng cho thịt, cải thiện chất lượng thịt của các thế hệ lai khi vẫn giữ được những ưu thế về khả năng chịu đựng, thích nghi cao của các giống địa phương. Lai giống là phương pháp nhân giống được ứng dụng rộng rãi trong nhân giống bò thịt nhằm tăng mức độ dị hợp và giảm mức độ đồng hợp.
Phương pháp nhân giồng này làm cho tần số kiểu gen đồng hợp tử ở thế hệ sau giảm đi còn tần số kiểu gen dị hợp tử tăng lên.2 Ưu thế lai Ưu thế lai là thuật ngữ chỉ về hiện tượng cơ thể lai (F1) xuất hiện những phẩm chất ưu tú, vượt trội so với bố mẹ chẳng hạn như có sức sống cao hơn, sinh trưởng nhanh hơn, phát triển mạnh, chống chịu bệnh tật tốt, năng suất cao, thích nghi tốt. Cũng có thể xem ưu thế lai là hiện tượng đời con hơn hẳn các chỉ tiêu của bố, mẹ gốc (Trần Đình Miên và cs. Ưu thế lai là hiện tượng con lai có sức sống, sức chống đỡ bệnh tật và năng suất cao hơn mức trung bình của thế hệ bố mẹ chúng (Đặng Vũ Bình, 2000)[5]. Ưu thế lai thường được biểu hiện cao nhất ở đời sau rồi sau đó giảm dần do các thế hệ sau mức độ dị hợp giảm dần.
Ưu thế lai làm tăng mức độ dị hợp tử, giảm mức độ đồng hợp tử của các kiểu gen. Hai quần thể vật nuôi 4 càng khác biệt với nhau về di truyền bao nhiêu thì ưu thế lai thu được giữa chúng càng lớn bấy nhiêu. Ưu thế lai cao nhất ở con F1, ưu thế lai ở con lai F2 (giao phối giữa F1 với F1, hoặc giữa F1với giống hoặc dòng bố, mẹ khởi đầu) chỉ bằng 1/2 ưu thế lai của F1. Trong chăn nuôi, ưu thế lai thường biểu hiện ở các dạng sau: - Con lai thế hệ thứ nhất hơn hẳn bố mẹ chúng về thể trọng và sức sống.
- Con lai thế hệ thứ nhất chiếm vị trí trung gian về thể trọng, nhưng hơn hẳn bố mẹ về độ mắn đẻ và sức sống. - Con lai thế hệ thứ nhất ưu việt về thể chất, khỏe mạnh, tuổi thọ, sức kéo nhưng mất hoàn toàn hoặc một phần sức sinh sản. - Con lai về sản lượng không hơn mức cao nhất của bố hoặc mẹ, nhưng vẫn cao hơn chỉ số mức trung bình cộng của bố và mẹ. Loại này chưa được nhiều người thừa nhận (Nguyễn Minh Hoàn, 2005)[19].
Mỗi tính trạng xét riêng biệt đều theo kiểu di truyền trung gian nhưng về sức sản xuất cuối cùng lại phổ biến là ưu thế lai điển hình.3 Ứng dụng lai giống trong chăn nuôi bò tại Việt Nam a. Các hình thức lai áp dụng trong chăn nuôi bò Lai giống là dùng bò của các giống khác nhau cho giao phối với nhau để đời con sinh ra mang máu của nhiều giống. Trong chăn nuôi trâu bò người ta áp dụng các hình thức lai chính như sau: - Lai cải tạo là phương pháp sử dụng một giống cao sản, tốt hơn nhiều mặt, cho giao phối với một giống kém hơn để cải tạo giống sau. - Lai pha máu (Lai cải tiến) dùng trong trường hợp một dòng, một giống về cơ bản đã đạt được những tiêu chuẩn chính nhưng còn một vài đặc điểm cần khắc phục.
- Lai gây thành (Lai phối hợp) là một phương pháp lai sử dụng nhiều giống tốt phối hợp lại để tạo nên giống mới có các tính trạng tốt hơn các giống gốc tham gia. Khi cần tạo ra giống mới người ta thường áp dụng phương 5 pháp này, thường dùng nhiều giống, mỗi giống có những đặc điểm riêng. - Lai kinh tế: còn gọi là lai công nghiệp, là phương pháp lai giữa hai cơ thể (đực và cái) thuộc hai, ba, bốn dòng, hoặc giống, hoặc loài khác nhau để tạo con lai thương phẩm; con lai này không sử dụng làm giống mà chỉ để nuôi lấy sản phẩm thịt, trứng, sữa… Hiện nay, một trong những biện pháp nhằm nâng cao khả năng sản xuất thịt trong ngành chăn nuôi bò thịt đang được áp dụng ở nước ta là lai kinh tế giữa bò chuyên dụng thịt với bò nội trong nước. Quá trình cải tiến đàn bò Vàng của Việt Nam đã được thực hiện từ đầu thế kỷ trước, nhưng mới chính thức trở thành chương trình quốc gia khoảng 30 năm nay và được gọi là Chương trình Sind hoá đàn bò Vàng.
Hiện nay đàn bò vàng Việt Nam đang được Sind hóa hoặc Zêbu hóa, có nghĩa là dùng bò đực Red Sindhi hoặc các giống bò đực thuộc nhóm bò Zêbu lai giống với bò trong nước. Các giống bò Zêbu đã được nhập trong chương trình cải tạo đàn bò Vàng gồm bò Red Sindhi và bò Sahiwal nhập từ Pakistan trong thời gian 1985 - 1987, bò Brahman đỏ và trắng nhập từ Cuba năm 1987 và từ Úc trong những năm 2001 - 2005. Mục đích là nâng cao tầm vóc của con lai F1, cải tiến năng suất, chất lượng thịt. Trên cơ sở đó để làm tiền đề cho những bước cải tiến tiếp theo hoặc theo hướng sữa hoặc theo hướng thịt.
Công tác lai tạo đàn bò trên địa bàn thành phố Hà Nội Bò cái nền LaiSind chủ yếu được thụ tinh nhân tạo (TTNT) với tinh bò đực các giống cao sản như Droughtmaster; BBB; Brahman; Angus; Wagyu,… tạo ra con lai có năng suất và chất lượng thịt tốt hơn hẳn. Cụ thể: + Bê hướng sinh sản: Bê sinh ra từ tinh bò Red Sindhi nhập ngoại có trọng lượng bê sơ sinh 18 – 20 kg/con, bê lai Red Sindhi 03 tháng tuổi đạt 50 – 60 kg, bê 06 tháng tuổi đạt 100 – 120 kg/con. Bê có ngoại hình đẹp, phù hợp làm nái nền. + Bê hướng thịt: 6 Bê hướng thịt sinh ra từ TTNT có khối lượng cao hơn từ 2 – 4 kg so với bê sinh ra từ nhảy trực tiếp.
Bê sinh trưởng nhanh, dễ nuôi. Đặc biệt, bê thịt sinh ra từ tinh nhập ngoại có trọng lượng sơ sinh bình quân 35,5kg, ngoại hình đẹp, trường con, khả năng sinh trưởng, phát triển tốt. Bê lai Droughtmaster 03 tháng tuổi đạt 90-120kg/con, đến 06 tháng tuổi đạt 160 – 200kg/con, 12 tháng đạt trên 300-350 kg/con, 18 – 24 tháng tuổi đạt 450- 600 kg, tỷ lệ thịt xẻ đạt 52 – 58%; tỷ lệ thịt tinh đạt 42 – 48%. Bê sinh ra từ tinh Red Angus có trọng lượng sơ sinh 25 kg, 3 tháng tuổi đạt 120 -130kg, 6 tháng tuổi đạt khoảng 220 – 260kg, 9 tháng tuổi đạt 280 – 320kg, 12 tháng tuổi đạt 380 – 420kg.
Bê F1BBB sinh ra trọng lượng từ 28 – 32kg/con. Khối lượng thời điểm 18 tháng tuổi đạt 430-450 kg/con. Tỷ lệ thịt xẻ đạt 63%; tỷ lệ tinh tinh đạt 53%.2 Đặc điểm sinh trưởng của bò 1.1 Khái niệm sinh trưởng Sinh trưởng là một quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng các kích thước như chiều cao, chiều dài, bề ngang, tăng khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể trên tính di truyền (Nguyễn Hải Quân và cs. Quá trình sinh trưởng gắn liền với quá trình phát triển của cơ thể.
Đó là sự hình thành các tổ chức, bộ phận mới và sự hoàn thiện tính chất và chức năng của các bộ phận trong cơ thể, đó là sự phát triển toàn diện của cơ thể cả về hình thái và chức năng trên cơ sở tính di truyền. Sinh trưởng và phát dục cùng diễn ra trong cơ thể, trong sự phát triển chung của cơ thể không tách rời nhau và không mâu thuẫn với nhau, cùng tồn tại và hỗ trợ nhau phát triển tạo cho cơ thể gia súc hoàn thiện các chức phận. Sinh trưởng của sinh vật phải thông qua ba quá trình: phân chia tế bào để tăng số lượng tế bào; tăng thể tích tế bào; tăng thể tích giữa các tế bào. Sinh 7 trưởng gắn với phát triển, hình thành các tổ chức, bộ phận mới và sự hoàn thiện hình thái, tính chất, chức năng của các bộ phận này.
Sinh trưởng là sự tăng thêm về khối lượng, kích thước, thể tích của từng bộ phận hay của toàn bộ cơ thể con vật. Nghiên cứu quy luật sinh trưởng của gia súc, các tác giả Medendoocphơ (1867), Kislopski (1930), Hammond (1937), Pơsennitxmơi (1964) (trích theo Trần Đình Miên và cs., 1992)[28] đều cho rằng sự phát triển của cơ thể bò cũng như các gia súc khác trong các giai đoạn và các thời kì đó tuân theo thủ theo các quy luật sau: - Quy luật phát triển theo giai đoạn - Quy luật phát triển không đồng đều - Quy luật phát triển theo nhịp điệu (chu kỳ) - Sinh trưởng bù 1. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng Các yếu tố chính ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng gồm: yếu tố di truyền, yếu tố dinh dưỡng, yếu tố môi trường và thời gian nuôi. Yếu tố di truyền Các giống bò khác nhau có tốc độ sinh trưởng và khả năng sản xuất thịt hoàn toàn khác nhau, khả năng này phụ thuộc hoàn toàn vào quá trình sinh trưởng của từng giống bò đó là quá trình tích lũy các hợp chất hữu cơ trong cơ thể mà thành phần chính là protein.
Tốc độ và phương thức tổng hợp protein (trong quá trình sinh trưởng) phụ thuộc vào tốc độ và phương thức hoạt động của các gen điều khiển sinh trưởng (Williamson và Payner, 1978)[85]. Cường độ sinh trưởng phụ thuộc vào lứa tuổi, khối lượng, giới tính. Sự thành thục thể xác sớm hay muộn cũng tác động đến sinh trưởng và tầm vóc của bò thịt. Giới tính cũng có tác động rõ nét đối với sự sinh trưởng, liên quan đến hormone sinh trưởng cũng như testosterone ở con đực: bò đực thường có quá trình sinh trưởng mạnh hơn bò cái, do đó khối lượng của bò đực thường lớn hơn khối lượng của bò cái cùng tuổi từ 10 – 20%.
8 Để đạt hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi phải tạo ra các giống bò có sức sản xuất cao, đó là các giống bò thịt chuyên dụng.