ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một nước nông nghiệp có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nên rất thuận lợi cho cây trồng phát triển. Đi đôi với cây trồng phát triển là sâu bệnh hại cũng phát sinh, chúng gây hại đáng kể về mặt năng suất. Hằng năm theo thống kê của Chi cục BVTV, các loại sâu bệnh hại đã làm thiệt hại khoảng 40%- 50% năng suất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến phẩm chất của nông sản. Các nghiên cứu cho thấy, sâu khoang (Spodoptera lilura Fabricius) là đối tượng gây hại quan trọng nhất trên rau.
Chúng có thể gây hại từ 70%- 80% diện tích lá, làm giảm tới 18,0% năng xuất rau và phát triển thành dịch hại rau ở nhiều vùng. Sâu khoang còn được gọi là sâu ăn tạp gây hại trên tất cả các loại rau, là đối tượng gây hại nặng trên rau, đậu, là một trong những loài sâu ăn lá quan trọng, là loại sâu đa thực có thể phá hoại đến 290 loại cây trồng thuộc 99 họ thực vật bao gồm các loại rau đậu, cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây lương thực, cây phân xanh. Bên cạnh các loại sâu hại rau thì các đối tượng côn trùng gây hại cây ăn quả cũng đang là một trong những vấn đề đáng lo ngại mà người nông dân đang gặp phải. Một trong những loại gây hại cây ăn quả khá nghiêm trọng đó là rệp sáp (Planococcus citri).
Chúng gây hại trên rất nhiều loại cây các cây thuộc họ cam quýt mà còn gây hại chủ yếu trên các cây công nghiệp như cà phê (cà phê chè và cà phê vối, có thể làn chết cây non), ca cao, hồ tiêu, dừa, khóm và các cây khác như mãng cầu, nho, chuối, xoài, gừng, tất cả loài hoa, rau…. Rệp sáp được phát hiện trên 70 họ cây trồng khác nhau, là một trong những loài rệp phổ biến nhất. Phân bố rộng khắp nơi trên thế giới, các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chúng hiện diện khắp các nước trồng cà phê.
Để phòng trừ sâu khoang và các loại sâu hại khác trên rau và cây ăn quả, người nông dân chủ yếu dựa vào biện pháp sử dụng thuốc hóa học. Thực tế cho thấy các biện pháp phun thuốc bảo vệ thực vật đem lại hiệu quả phòng trừ cao, giải quyết nhanh những trận dịch lớn, sử dụng đơn giản, thuận tiện. Vì vậy, các biện pháp hóa học đã trở thành biện pháp chủ yếu trong quy trình canh tác các loại rau ở Việt Nam.Tuy nhiên việc lạm dụng thuốc hóa học vừa gây lãng phí trong sản xuất, làm tăng khả năng khác thuốc và hơn cả là việc quá lạm dụng sẽ tác động rất xấu đến môi SVTH: Phạm Thị Thùy Dương Trang 1 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Bảo Châu trường xung quanh, gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí cũng như ảnh hưởng đến các sinh vật xung quanh, kẻ thù tự nhiên của sâu hại bị thuốc hóa học tiêu diệt, phá vỡ cân bằng sinh học trong tự nhiên.
Một trong những giải pháp hiệu quả hiện nay là sử dụng các chế phảm có nguồn gốc từ sinh học để nhằm tăng cường sức cây trồng cũng như giúp bảo vệ cây phòng ngừa các tác nhân gây bệnh. Nấm kí sinh côn trùng chưa tạo ra tính kháng thuốc và có khả năng lây nhiễm trên nhiều loại sâu khác nhau, ngoài ra nấm ký sinh côn trùng không chỉ tiêu diệt trực tiếp sâu hại vào thời kì phá hoại mà còn tích lũy trên đồng ruộng truyền cho thế hệ tiếp theo (Lê Anh Tuấn. Từ đó cho thấy triển vọng sử dụng nấm kí sinh côn trùng có hoạt lực mạnh như là một chiến lược kiểm soát sâu bệnh hại thay thế. Xuất phát từ lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “KHẢO SÁT ĐIỀU KIỆN NUÔI CẤY VÀ KHẢ NĂNG KIỂM SOÁT CÔN TRÙNG CHỦNG NẤM Isaria javanica Bb-T4” ❖ Mục tiêu: - Nghiên cứu các đặc điểm sinh học của chủng nấm và điều kiện để nuôi cấy chủng nấm.
- Nghiên cứu Khả năng phòng trừ sinh học côn trùng gây hại (sâu khoang & rệp sáp). Của chủng nấm……. ❖ Nội dung nghiên cứu: - Định danh hình thái và SHPT chủng nấm Isaria javanica Bb- T4 - Khảo sát các loại môi trường để chọn ra môi trường tối ưu nhất nuôi cấy chủng nấm kí sinh côn trùng. - Khảo sát nồng độ tối ưu của dịch chiết nấm có khả năng kiểm soát sinh học côn trùng tốt nhất.
- Khảo sát một số môi trường thích hợp để tạo chế phẩm từ chủng nấm kí sinh côn trùng Isaria javanica Bb-T4 SVTH: Phạm Thị Thùy Dương Trang 2 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Bảo Châu PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU SVTH: Phạm Thị Thùy Dương Trang 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Bảo Châu 1. TỔNG QUÁT VỀ SÂU KHOANG Sâu khoang có tên hoa học là Spodoptera litura Fabricius Phân loại sâu khoang Bộ: Lepidoptera Họ: Noctuidae Chi: Spodoptera Loài: litura 1.
Phân bố và kí chủ sâu của sâu khoang Spodoptera litura Fabricius Sâu khoang hay còn gọi là sâu ăn tạp là loài có phổ ký chủ rộng, phân bố hầu hết các nơi trên thế giới. Sâu ăn tạp là một trong những loài sâu ăn lá quan trọng, là loài sâu đa thực có thể phá hại đến 290 loại cây trồng thuộc 99 họ thực vật bao gồm các loại rau đậu, cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây lương thực, cây phân xanh,. ( Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Bắc Cạn. Hình ảnh sâu khoang hại rau (nguồn: Internet) 1.
Triệu chứng gây hại của sâu khoang (sâu ăn tạp - Spodoptera litura Fabricius) đối với các loại cây trồng Sâu khoang còn được gọi là sâu ăn tạp gây hại trên tất cả các loại rau, là đối tượng gây hại nặng trên rau, đậu. Sâu non tuổi nhỏ thường gây hại nghiêm trọng nhất bởi vì hàng trăm con sâu non tập trung lại ăn lá cây và nhanh chóng làm lá cây xơ xác. Sâu non còn có thể gặm ăn vỏ quả làm giảm phẩm chất cây trồng và ảnh hưởng SVTH: Phạm Thị Thùy Dương Trang 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Bảo Châu nghiêm trọng đến năng xuất.
( Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Bắc Cạn. Đặc điểm hình thái của sâu khoang (sâu ăn tạp - Spodoptera litura Fabricius) Ngài (bướm trưởng thành): có chiều dài thân khoảng 20-25mm, sải cánh rộng từ 35-45mm. Cách trước màu nâu vàng, giữa cánh có vân trắng, cánh sau màu trắng óng ánh. Bướm có đời sống trung bình từ 1 - 2 tuần tuỳ điều kiện thức ăn.
Trung bình một bướm cái có thể đẻ 300 trứng, nhưng nếu điều kiện thích hợp bướm có thể đẻ từ 900-2000 trứng. Thời gian đẻ trứng trung bình của bướm kéo dài từ 5-7 ngày đôi khi đến 10 - 12 ngày. Hình ảnh bướm của sâu khoang Spodoptera litura Fabricius ( nguồn: Internet) Trứng: Trứng có hình bán cầu, đường kính từ 0,4 - 0,5mm. Bề mặt trứng có những đường khía dọc từ đỉnh trứng xuống đến đáy và bị cắt ngang bởi những đường khía ngang tạo thành những ô nhỏ.
Trứng mới nở có màu trắng vàng, sau chuyển thành màu vàng tro, lúc sắp nở có màu tro đậm. Ổ trứng có phủ lớp lông từ bụng bướm mẹ. mới đẻ màu vàng, sau màu tro tối xếp với nhau thành ổ. Trứng đẻ thành ổ trên lá, một ổ có từ 50 - 200 trứng.
Một con cái có thể đẻ từ 500 – 2. ( Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Bắc Cạn., 2018) SVTH: Phạm Thị Thùy Dương Trang 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Bảo Châu Hình 1. Hình ảnh trứng của sâu khoang Spodoptera litura Fabricius (nguồn: Internet) Ấu trùng (sâu non): Nếu điều kiện thuận lợi sâu có thể dài từ 35 - 53mm, hình ống tròn.
Sâu tuổi nhỏ có màu xanh lục, càng lớn sâu chuyển dần thành màu nâu đậm. Trên cơ thể có một sọc vàng sáng chạy ở hai bên hông từ đốt thứ nhất đến đốt thứ tám của bụng, mỗi đốt có một chấm đen rõ nhưng hai chấm đen ở đốt thứ nhất to nhất. Sâu càng lớn, hai chấm đen ở đốt thứ nhất càng to dần và gần như giao nhau tạo thành khoang đen trên lưng nên sâu ăn tạp còn được gọi là “sâu khoang”. ( Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Bắc Cạn.
hình ảnh ấu trùng sâu khoang Spodoptera litura Fabricius (nguồn: Internet) SVTH: Phạm Thị Thùy Dương Trang 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Bảo Châu Hình 1. hình ảnh nhộng của sâu khoang Spodoptera litura Fabricius (nguồn Internet) Nhộng: Nhộng kích thước dài từ 18-20mm. Nhộng sâu ăn tạp có màu xanh đọt chuối, rất mềm ngay khi mới được hình thành, sau đó chuyển dần sang màu vàng xanh, cuối cùng có màu nâu, thân cứng dần và có màu nâu đỏ, cuối bụng có một đôi gai ngắn.
Khi sắp vũ hoá, nhộng có màu nâu đen, các đốt cuối của nhộng có thể cử động được. ( Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Bắc Cạn. Đặc điểm sinh học, sinh thái và gây hại sâu khoang (sâu ăn tạp - Spodoptera litura Fabricius.): ⮚ Vòng đời: 25 - 48 ngày - Trứng: 3 - 7 ngày - Sâu non: 12 - 27 ngày - Nhộng: 8-10 ngày - Trưởng thành: 2 - 4 ngày Hình 1. Vòng đời của sâu khoang Spodoptera litura Fabricius (nguồn: Internet) SVTH: Phạm Thị Thùy Dương Trang 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Nguyễn Ngọc Bảo Châu 1. Đặc điểm sinh học và gây hại của sâu khoang (sâu ăn tạp - Spodoptera litura Fabricius). Ngài: Bướm thường vũ hoá vào buổi chiều và bay ra hoạt động vào lúc vừa tối, ban ngày bướm đậu ở mặt sau lá hoặc trong các bụi cỏ. Bướm hoạt động từ tối đến nửa đêm, có thể bay xa đến vài chục mét và cao đến 6-7 mét, có xu tính với mùi chua ngọt và ánh sáng bước sóng ngắn.
Sau khi vũ hoá vài giờ, bướm có thể bắt cặp và một ngày sau đó có thể đẻ trứng. Sâu vừa nở ăn gặm vỏ trứng và sống tập trung, nếu bị động sâu bò phân tán hoặc nhả tơ buông mình xuống đất. Sâu tuổi 1-2 chỉ ăn gặm phần diệp lục của lá và chừa lại lớp biểu bì trắng, từ tuổi 3 trở đi sâu ăn phá mạnh cắn thủng lá và gân lá. Khi mật độ sâu cao có thể làm cho lá rụng nhanh.
Tuy nhiên sự gây hại thường không nghiêm trọng lắm do khả năng tự đền bù của cây. Khi đầy sức sâu chui xuống đất hoá nhộng, sau khoảng 10 ngày thì vũ hoá. Ở tuổi lớn khi thiếu thức ăn, sâu còn tập quán ăn thịt lẫn nhau và không những ăn phá lá cây mà còn ăn trụi cả thân, cành, trái non. Khi làm nhộng, sâu chui xuống đất làm thành một khoang và nằm yên trong đó hoá nhộng.