Đặt vấn đề Hiện nay, nguy cơ mất vệ sinh an toàn thực phẩm đang là một trong những vấn đề cấp thiết nóng bỏng mang tính thời sự, thu hút được sự quan tâm rất lớn từ các nhà quản lý thực phẩm cũng như người dân. Theo thống kê của tổ chức Y tế Thế giới (Word Health Organization – WHO) mỗi năm Việt Nam có khoảng 8 triệu người bị ngộ độc thực phẩm hoặc lên quan đến thực phẩm với 100-200 ca tử vong [15]. Vi khuẩn, hóa chất, kim loại nặng, ký sinh trùng, vi nấm và virus là nguyên nhân chủ yếu của các vụ ngộ độc thực phẩm ,cũng như các bệnh liên quan đến thực phẩm. Nguyên nhân hàng đầu là do sự xuất hiện của các vi sinh vật gây nhiễm tạp trong mẫu thực phẩm , trong đó tụ S.cereus là một trong số những tác nhân nguy hiểm nhất [9].
Việc phòng và điều trị hai loại vi khuẩn này chủ yếu dựa vào thuốc đặc trị và thuốc kháng sinh, nhưng với tình trạng sử dụng thuốc tràn lan, không hợp lý đã gây ra hiện tượng kháng thuốc ở hai loại vi khuẩn này. Từ đó đã đòi hỏi tìm ra một hướng mới là sử dụng các vật liệu bao gói cách ly sự lây nhiễm vi khuẩn vào trong thực phẩm, và một vật liệu mới được ra đời với đặc tính sinh học, đáp ứng được nhu cầu không gây hại cho sức khỏe con người, có khả năng tiêu diệt nấm, vi khuẩn virus đó chính là nano bạc [11]. Từ lâu loài người đã biết đến tác dụng sát khuẩn mạnh của bạc, những chén bát, thìa nĩa, nồi niêu của người La Mã cổ, của các vua chúa phong kiến. đã chứng minh điều đó.
Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, người ta thậm chí còn sử dụng các sản phẩm từ bạc để điều trị nhiễm trùng trước khi thuốc kháng sinh ra đời. Tuy nhiên, tác dụng này của bạc không được ứng dụng rộng rãi do giá thành cao. Những năm gần đây, công nghệ nano ra đời, con người đã chế tạo được bạc ở kích thước nano, và ứng dụng của bạc cũng được đưa lên một tầm cao mới [24]. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi ở kích thước nano (từ 1 đến 100 nm), hoạt tính sát khuẩn của bạc tăng lên khoảng 50000 lần so với bạc dạng khối, như vậy 1 gam bạc nano có thể sát khuẩn cho hàng trăm mét vuông chất nền.
Điều này sẽ giúp cho khối lượng bạc sử dụng trong các sản phẩm sẽ giảm rất mạnh, n 2 nên tỷ trọng của bạc trong giá thành trở nên không đáng kể. Sở dĩ nano bạc được nghiên cứu ứng dụng vào việc kháng khuẩn vì bạc có tính kháng khuẩn mạnh và không gây tác dụng phụ, không gây độc cho người khi nhiễm lượng nano bạc bằng nồng độ diệt khuẩn (khoảng nồng độ nhỏ hơn 100 ppm), không gây ô nhiễm môi trường. Ứng dụng trong y học, nhất là khi hiện tượng vi khuẩn kháng kháng sinh ngày càng phổ biến như ngày nay. Một số các nghiên cứu đã cho thấy, tất cả vi khuẩn sử dụng enzyme như một lớp “phổi hóa học” để chuyển hóa oxy.
Các ion bạc phân hủy enzyme và ngăn chặn quá trình hút oxy. Tác động này làm chết tất cả các vi khuẩn, tiêu diệt chúng trong vòng vài phút. Ngoài ra, các hạt bạc có kích thước nhỏ chui vào trong tế bào, kết hợp với các enzyme hay DNA có chứa nhóm sunfua hoặc phosphate gây bất hoạt enzyme hay DNA dẫn đến gây chết tế bào [11]. Chính vì vậy công nghệ nano bạc được rất nhiều trong các lĩnh vực như: sức khỏe –y tế, năng lượng và môi trường, công nghệ hóa học, công nghệ thực.
Do nhận thức được tầm vai trò quan trọng của nano bạc trong lĩnh vực thực phẩm, nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tôi đã tiến hành nghiên cứu luận văn với đề tài: “Nghiên cứu khả năng kháng vi khuẩn gram dương của nano bạc”. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được khả năng kháng khuẩn gram dương của nano bạc. Mục đích nghiên cứu - Xác định được một số đặc điểm của vi sinh vật nghiên cứu. - Lựa chọn được phương pháp thích hợp để xác định khả năng kháng vi khuẩn gram dương của nano bạc.
- Xác định được nồng độ ức chế tối thiểu của nano bạc đối với vi khuẩn gram dương. - Xác định được khả năng kháng vi khuẩn gram dương của nano bạc theo thời gian. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Đưa ra cơ chế kháng S.
aureus của chế phẩm nano bạc. - Đưa ra nồng độ của nano bạc để ức chế S. - Đưa ra cơ chế kháng B. cereus của chế phẩm nano bạc.
- Đưa ra nồng độ của nano bạc để ức chế B. n 3 - Giúp sinh viên có cơ hội tiếp cận với các thao tác kỹ thuật trong thực tế. Qua đó kết hợp với các kiến thức lý thuyết đã được học sinh viên sẽ có những hiểu biết chuyên sâu và cái nhìn tổng quát hơn.Ý nghĩa thực tiễn - Sử dụng nano bạc trong việc kháng khuẩn, bảo quản và chế biến thực phẩm. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Tổng quan về nano bạc 2. Giới thiệu về công nghệ nano 2. Khái niệm về công nghệ nano - Công nghệ nano là ngành công nghệ liên quan đến việc thiết kế, phân tích, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng, kích thước trên quy mô nanômét (nm, 1 nm = 10-9 m) [2]. Ở kích thước nano, vật liệu sẽ có những tính năng đặc biệt mà vật liệu truyền thống không có được đó là do sự thu nhỏ kích thước và việc tăng diện tích mặt ngoài.
Ý tưởng cơ bản về công nghệ nano được đưa ra bởi nhà vật lý học người Mỹ Richard Feynman vào năm 1959, ông cho rằng khoa học đã đi vào chiều sâu của cấu trúc vật chất đến từng phân tử, nguyên tử vào sâu hơn nữa. Nhưng thuật ngữ “công nghệ nano” mới bắt đầu được sử dụng vào năm 1974 do Nario Taniguchi một nhà nghiên cứu tại trường đại học Tokyo sử dụng để đề cập khả năng chế tạo cấu trúc vi hình của mạch vi điện tử [8]. Cơ sở khoa học của công nghệ nano a. Chuyển tiếp từ tính chất cổ điển đến tính chất lượng tử Khác với vật liệu khối, khi ở kích thước nano thì các tính chất lượng tử được thể hiện rất rõ ràng.
Vì vậy khi nghiên cứu vật liệu nano chúng ta cần tính tới các thăng giáng ngẫu nhiên. Càng ở kích thước nhỏ thì các tính chất lượng tử càng thể hiện một cách rõ ràng hơn. Ví dụ một chấm lượng tử có thể được coi như một đại nguyên tử, nó có các mức năng lượng giống như một nguyên tử [2]. Hiệu ứng bề mặt Cùng một khối lượng nhưng khi ở kích thước nano chúng có diện tích bề mặt lớn hơn rất nhiều so với khi chúng ở dạng khối.
Điều này, có ý nghĩa rất quan trọng trong các ứng dụng của vật liệu nano có liên quan tới khả năng tiếp xúc bề mặt của vật liệu, như trong các ứng dụng vật liệu nano làm chất diệt khuẩn. Đây là một tính chất quan trọng làm nên sự khác biệt của vật liệu có kích thước nanomet so với vật liệu ở dạng khối [2]. Kích thước tới hạn Kích thước tới hạn là kích thước mà ở đó vật giữ nguyên các tính chất về vật lý, hóa học khi ở dạng khối. Nếu kích thước vật liệu mà nhỏ hơn kích thước này thì tính chất của nó hoàn toàn bị thay đổi.
Nếu ta giảm kích thước của vật liệu đến kích cỡ nhỏ hơn bước sóng của vùng ánh sáng thấy được (400 - 700 nm), theo Mie hiện tượng "cộng hưởng plasmon bề mặt" xảy ra và ánh sáng quan sát được sẽ thay đổi phụ thuộc vào bước sóng ánh sáng xảy ra hiện tượng cộng hưởng. Hay như tính dẫn điện của vật liệu khi tới kích thước tới hạn thì không tuân theo định luật Ohm nữa. Mà lúc này điện trở của chúng sẽ tuân theo các quy tắc lượng tử. Mỗi vật liệu đều có những kích thước tới hạn khác nhau và bạn thân trong một vật liệu cũng có nhiều kích thước tới hạn ứng với các tính chất khác nhau của chúng.
Bởi vậy khi nghiên cứu vật liệu nano chúng ta cần xác định rõ tính chất sẽ nghiên cứu là gì. Chính nhờ những tính chất lý thú của vật liệu ở kích thước tới hạn nên công nghệ nano có ý nghĩa quan trọng và thu hút được sự chú ý đặc biệt của các nhà nghiên cứu [6]. Phân loại vật liệu nano Có rất nhiều cách phân loại vật liệu nano. Sau đây là một cách phân loại dựa vào hình dáng vật liệu [6]: - Vật liệu không chiều là vật liệu mà ba chiều đều có kích thước nano, ví dụ: chấm lượng tử.
- Vật liệu một chiều là vật liệu trong đó hai chiều có kích thước nano, ví dụ: dây nano,ống nano,… - Vật liệu hai chiều là vật liệu trong đó một chiều có kích thước nano, ví dụ: màng mỏng,…(Chiều ở đây có nghĩa là chiều chuyển động không bị hạn chế bởi kích thước của phần tử tải điện). Ngoài ra còn có vật liệu có cấu trúc nano hay nanocomposite trong đó chỉ có một phần của vật liệu có kích thước nm, hoặc cấu trúc của nó có các phần không chiều, một chiều, hai chiều đan xen lẫn nhau. Giới thiệu về bạc kim loại Cấu hình electron của bạc: 1s22s22p63s23p63d104s24p64d105s1 Bán kính nguyên tử Ag: 0,288 nm. Bán kính ion bạc: 0,23 nm.1: Số nguyên tử bạc trong một đơn vị thể tích [13] Kích thước của hạt Số nguyên tử chứa nano Ag (nm) trong đó 1 31 5 3900 20 250000 Bạc nano là vật liệu có diện tích bề mặt riêng lớn, có những đặc tính độc đáo sau [13] : + Tính khử khuẩn, chống nấm, khử mùi, có khả năng phát xạ tia hồng ngoại đi xa, chống tĩnh.
+ Không có hại cho sức khỏe con người với liều lượng tương đối cao. + Có khả năng phân tán ổn định trong các loại dung môi khác nhau (trong các dung môi phân cực như nước và trong các dung môi không phân cực như benzene, toluene). + Độ bền hóa học cao, không bị biến đổi dưới tác dụng của ánh sáng và các tác nhân oxy hóa khử thông thường. + Chi phí cho quá trình sản xuất thấp.
+ Ổn định ở nhiệt độ cao. Các phương pháp chế tạo nano bạc Có 2 phương pháp để điều chế hạt nano kim loại bạc: Phương pháp từ dưới lên và phương pháp từ trên xuống. Phương pháp từ dưới lên “bottom- up” là phương pháp tạo hạt nano từ các nguyên tử hoặc ion kết hợp lại với nhau.