đặt vấn đề nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới quá trình điều chế sét hữu cơ từ bentonite Trung Quốc, tìm điều kiện thích hợp để điều chế sét hữu cơ có d001; hàm lượng (%) cation xâm nhập lớn nhất và có khả năng hấp phụ chất hữu cơ có kích thước lớn như xanh metylen. Giới thiệu về bentonite Bentonite là một loại khoáng sét, tên của nó được viết theo tên của người phát hiện ra nó đầu tiên – ông Fort Benton, người Mỹ. Bentonite có sẵn trong tự nhiên gồm hai loại: sodium bentonite (có độ nở, khả năng tạo gel cao) và calcium bentonite (thường có sẵn trên thế giới nhưng với khả năng trương nở ít hơn). Các mỏ sodium bentonite tự nhiên trên thế giới ít hơn nhiều lần các mỏ calcium bentonite.
Thành phần và cấu trúc của bentonite Thành phần hóa học của bentonite Bentonite là một khoáng sét tự nhiên với thành phần chính là montmorillonite (MMT) Al2O3. Ngoài ra nó có thể bao gồm oxit của một số nguyên tố khác như natri, kali, canxi, magie và sắt. Cấu trúc mạng tinh thể của MMT được hình thành từ mạng tứ diện (tetraedral) SiO4 2 chiều và mạng bát diện (octa edral) MeO6 2 chiều (hình 1. Mạng tứ diện SiO4 Mạng bát diện MeO6 (Me =Al,Mg) Hình 1.
Sơ đồ mạng 2 chiều SiO4 và MeO6 Từ hai mạng trên, một kiểu ghép nối 2:1 đã tạo ra mạng cấu trúc phyllosilicat của MMT. Cụ thể là, ghép hai mạng tứ diện vào hai bên của một mạng bát diện (hình 1. Cấu trúc mạng của một đơn vị cấu trúc MMT Độ dày của lớp cấu trúc 3 mạng (2 mạng tứ diện và 1 mạng bát diện) là khoảng 0,94 nm, khoảng cách d001 (từ mặt đáy tứ diện lớp 2:1 này đến mặt tứ diện đáy của lớp 2:1 khác) khoảng 1,5 nm. Nghĩa là, khoảng cách (khoảng trống) giữa 2 lớp 2:1 là d =1,5 - 0,94 = 0,56 nm ~ 6Å Montmorillonite còn được gọi là sét lớp điocta (chính xác là đioctahedral: bát diện đôi), nghĩa là cứ 3 vị trí tâm bát diện thì 2 vị trí được chiếm bởi các cation hóa trị +3 (chủ yếu là Al3+) còn một vị trí để trống.
Do sự thay thế đồng hình giữa các ion Al3+ cho Si4+ trong mạng tứ diện và Mg2+ cho Al3+ trong mạng bát diện mà mạng cấu trúc của MMT mang điện tích âm. Các điện tích này được cân bằng (bù trừ) bởi các cation trao đổi ở trạng thái hydrat hóa nằm phân tán trong không gian giữa các lớp 2:1 (khoảng cách d). Tính chất của bentonite Bentonite có thành phần chính là MMT có cấu trúc gồm các lớp aluminosilicat liên kết với nhau bằng liên kết hiđro, có các ion bù trừ điện tích tồn tại giữa các lớp nên bentonite có các tính chất đặc trưng: trương nở, hấp phụ, trao đổi ion, kết dính,. Trong đó quan trọng nhất là khả năng trương nở, hấp phụ và trao đổi ion [1], [4].
Tính chất trương nở và hấp phụ của MMT Đặc tính cơ bản của bentonite là hút nước và nở ra. Tuy nhiên, không phải tất cả bentonite đều có khả năng hấp thụ như nhau. Mức độ hidrat hóa và trương nở của nó phụ thuộc vào loại ion có thể trao đổi được chứa, với khả năng hút nước và hòa tan khác nhau. Chủ yếu là do hai yếu tố: hấp thụ nước ở bề mặt và lực đẩy thẩm thấu, buộc các lớp tách ra và mở ra giống như một “chồng thẻ”.
Natri bentonite, với cation natri (Na+) cho phép nước xâm nhập qua các lớp, buộc chúng tách rời nhau, do đó dẫn đến 4 trương nở lớn. Ngược lại, canxi bentonite, với cation canxi (Ca2+), trong khi bị hydrat hóa theo cách tương tự, nhưng do mang điện tích dương mạnh, nên có đặc tính hấp thụ thấp hơn, cho phép nước xâm nhập qua các lớp ít hơn. Theo [14], nước dễ bị hấp phụ trong khoảng trống giữa 2 lớp cấu trúc, tạo ra một lớp hấp phụ với độ dày 4 phân tử H2O. Do đó, khoảng cách d được giãn rộng ra, thể tích vật liệu tăng lên.
Đó là hiện tượng trương nở của MMT (bentonite). Bằng phương pháp XRD người ta có thể xác định được khoảng cách giữa các mặt cơ bản d001 trong quá trình trương nở của MMT. Ngoài phân tử H2O, một số phân tử có cực khác như các ancol, xeton, amin, nitril cũng được hấp phụ trong khoảng không gian giữa lớp. Các hydrocacbon chỉ hấp phụ ở bề mặt ngoài tinh thể MMT.
Vì bề mặt ngoài của MMT chỉ chiếm 30÷70m2/g, nhỏ hơn rất nhiều bề mặt hình học ~750m2/g, do đó dung lượng hấp phụ của MMT đối với hydrocacbon nhỏ hơn nhiều so với H2O. Như vậy, các khoảng trống giữa các lớp cấu trúc của MMT có thể được xem là các vi mao quản. Độ rộng của vi mao quản này có thể “co giãn” trong quá trình hấp phụ - khử hấp phụ. Vì mạng cấu trúc lớp của MMT tương đối “co giãn” nên MMT không chỉ hấp phụ các phân tử có kích thước nhỏ mà còn có thể hấp phụ các phân tử phân cực lớn như polyoxitetylen, ancol polyvinyl, protein [13],.
làm cho d001 của MMT tăng lên đáng kể. Độ nhớt và tính chất thixotropy của huyền phù nước [3] Khi bentonite được phân tán trong nước, huyền phù keo có độ ổn định cao được hình thành với độ nhớt và thixotropy cao. Ở nồng độ đủ cao, những huyền phù này bắt đầu có các đặc tính của gel. Huyền phù được hình thành khi các phân tử nước thâm nhập vào các lớp xen kẽ của tiểu cầu.
Tại đây, các liên kết cầu hydro được hình thành bởi các nguyên tử hydro có trong phân tử nước. Các tiểu cầu trở nên cô lập với nhau, trong khi liên kết với nhau thông qua nước xen kẽ. Khi để yên, một mạng lưới được tạo thành, bằng cách kết hợp nước. Ngược lại, dưới áp lực cơ học, các liên kết này bị đứt một phần, do đó cho phép các tiểu cầu di chuyển tự do hơn.
Độ nhớt trong những điều kiện này thấp hơn ở trạng thái nghỉ. Quá trình sol-gel-sol thuận nghịch này được gọi là thixotropy. Tính chất keo và chống thấm [4] 5 Khi nước được hấp thụ bởi bentonite, một gel bán rắn được hình thành với khả năng chịu áp suất thủy tĩnh mạnh. Một tiểu cầu MMT có thể được hình dung như một gói mỏng gồm các lớp tích điện âm.
Do mang điện tích âm, chúng đẩy nhau trong khi cho nước đi qua. Bằng cách này, trong khi gói phồng lên, một lớp vỏ ổn định được hình thành xung quanh tiểu cầu. Khi bão hòa, lớp vỏ này sẽ đẩy lùi nước, ngay cả khi chịu áp lực. Đối với tất cả các đặc tính này, bentonite được sử dụng trong các ao và bến tàu, để ngăn chặn sự xâm nhập của đất và lót nền của các bãi chôn lấp.
Khả năng trao đổi cation [7] MMT có khung mạng tinh thể mang điện tích âm, do sự thay thế đồng hình của Al3+ cho Si4+ trong mạng tứ diện. Nhưng vì tỉ số Al : Si trong mạng tứ diện không lớn {Al : Si = 1:(15 ÷ 30)} nên số tâm điện tích âm được tạo ra không nhiều. Tuy nhiên, các tâm điện tích âm này nằm gần bề mặt khe hở giữa các lớp nên có lực liên kết mạnh hơn với các cation bù trừ điện tích (Na+, K+, Ca2+,.) so với các tâm điện tích âm của mặt bát diện. Trong mặt bát diện (nằm giữa 2 mặt tứ diện), cũng xuất hiện các tâm điện tích âm do sự thay thế đồng hình của Mg2+ cho Al3+.
Do tỉ số Mg2+: Al3+ ≈ 1: (4 5) [16] nên số điện tích âm tạo ra ở mặt bát diện lớn hơn 4 ÷ 6 lần so với mặt tứ diện. Tuy nhiên, lực tĩnh điện tương tác giữa các tâm điện tích âm bát diện yếu hơn so với mặt tứ diện vì khoảng cách từ tâm đến bề mặt cơ sở lớn hơn (2,2Å so với 0,6Å). Ngoài ra, trên bề mặt ngoài vật liệu của MMT (vị trí gờ, cạnh của các “mảnh” gãy của lớp cấu trúc) còn tồn tại các nhóm cấu trúc MeOH như: Si-OH, Al-OH,… Các nhóm này có tính chất axit-bazơ khác nhau, nghĩa là khả năng cho nhận proton khác nhau khi pH của dung dịch (môi trường) thay đổi. Khung mạng của MMT chứa các điện tích âm thường trực (permanent) do sự thay thế đồng hình của Al3+ với Si4+ (trong mạng tứ diện), Mg2+ với Al3+ (trong mạng bát diện) và các nhóm MeO- (khi pH dung dịch > pHpzc).
Các tâm điện tích âm bề mặt là nguồn hấp phụ các ion kim loại theo cơ chế tạo phức bề mặt [6] Hầu như tất cả các đặc trưng về kiến trúc mạng diocta và các tính chất liên quan đến cấu trúc của MMT đã trình bày ở trên đều được thể hiện trên hình 1. Sơ đồ kiến trúc mạng tinh thể MMT, nhìn từ mặt [7] 1. Ứng dụng của bentonite Từ một số tính chất đã được đề cập ở trên, bentonite có một số ứng dụng như sau [1], [2], [3], [4], [5]: Làm vật liệu hấp phụ Vật liệu hấp phụ dùng để xử lý nước thải công nghiệp nói chung và nước thải chứa phóng xạ nói riêng đòi hỏi cần phải có dung lượng trao đổi ion lớn và có độ bền trong môi trường nước. Đối với vật liệu hấp phụ được chế tạo trên nền khoáng sét bentonite có tính chất trương nở mạnh và khả năng tạo ra huyền phù bền và dễ tan trong nước nên cần phải nghiên cứu chế độ hoạt hóa bentonite bằng phương pháp nhiệt để thu nhận được vật liệu vừa có khả năng hấp phụ các nguyên tố phóng xạ và kim loại nặng có hiệu quả vừa có độ bền cao trong môi trường nước.
Khả năng hấp phụ cũng như tính chất trao đổi ion của bentonite đã làm cho nó được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực nhất là lĩnh vực xử lý môi trường như: hấp phụ các cation kim loại nặng, hấp phụ các chất hữu cơ độc hại, làm nguyên liệu điều chế sét hữu cơ… Làm vật liệu điều chế sét hữu cơ và nanocompozit Để tạo ra vật liệu mới có những tính chất đặc biệt, có tính chất ưu việt hơn người ta thêm vào vật liệu đó một lượng nhỏ sét hữu cơ. Hiện nay công nghệ nano đang ưa chuộng sử dụng bentonite sét hữu cơ trong việc chế tạo vật liệu mới. 7 Xử lý chất thải Trong lĩnh vực xử lý chất thải bentonite được sử dụng với vai trò chủ yếu làm chất kết ngưng, xúc tiến trong quá trình đông quánh của bùn thải đồng thời nó là chất chọn lọc có hiệu quả với nước thải có nhiều chất không tan, chất trôi nổi.