Chương 1: Nghiên cứu tổng quan Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả và thảo luận Kết luận. NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 1. Tổng quan về da thuộc và xử lý kháng khuẩn, kháng nấm vật liệu da 1. Tổng quan về da thuộc 1.
Cấu trúc da nguyên liệu Nguyên liệu để sản xuất da thuộc là các bộ da của động vật, trong đó da bê, da bò chiếm khoảng 70%, da cừu 13%, da dê 11%, da lợn 7%, da các loài động vật khác chiếm khoảng 1% [1]. Động vật càng non, độ dày của da càng mỏng và diện tích càng nhỏ, mặt da phẳng, mịn và có ít khuyết tật hơn so với da động vật già. Da của động vật cái có bề mặt mịn hơn (fine grain) so với da động vật đực, ở vùng bụng, nách và cổ có cấu trúc xơ lỏng hơn, do vậy da thành phẩm được làm từ da của động vật cái sẽ có độ bai giãn và độ mềm xốp cao hơn [5]. Bộ da động vật nói chung được cấu tạo từ các lớp như: Lớp biểu bì, lớp bì và lớp thịt dưới da (hình 1.1) và lớp lông phủ, các tuyến mồ hôi và tuyến mỡ.
Trong da phân bố các dây thần kinh và các đầu dây thần kinh, có các mạch máu và có thể có các cơ [2]. Mặt cắt da nguyên liệu [5]. Trong sản xuất da thuộc người ta chỉ sử dụng lớp bì, còn trong sản xuất da lông thì sử dụng cả lớp biểu bì và lớp lông [5]. Lớp biểu bì: Biểu bì là lớp bề mặt phân bố trực tiếp dưới lớp lông phủ và cấu tạo từ một số 2 dãy tế bào biểu mô (tế bào sừng).
Tuỳ thuộc vào mức độ phát triển của biểu bì, mà khi quan sát bằng kính hiển vi có thể thấy từ hai đến sáu lớp. 3 Biểu bì không có ranh giới rõ ràng với lớp bì. Ở 1 một số chỗ, đặc biệt là gần chân lông, biểu bì đi sâu vào lớp bì và đến lượt mình lớp bì lại ăn sâu vào biểu bì bởi các lớp nhú [3, 5]. Cấu tạo lớp biểu bì 1.
đầu dây thần kinh [5]. 5 Lớp bì: Là lớp chính của con da nằm ngay dưới lớp biểu bì. Độ dày của lớp này chiếm khoảng 85 – 88% độ dày của da. Lớp này rất dai và chắc.
Nó được tạo thành bởi sự đan xen phức tạp của các sợi collagen, và các protit không có cấu trúc xơ (chúng được bỏ đi khỏi lớp bì trong các công đoạn chuẩn bị thuộc). Lớp bì của hầu hết các loại da đều có cấu tạo chung và được phân chia khá rõ ràng thành hai lớp: Lớp nhú (papillary layer) và lớp lưới (reticular layer) [5, 10]. Các thành phần của Lớp nhú: Là lớp tiếp giáp với biểu bì, bề mặt của bì phu 1) sợi collagen; 2) sợi lớp này được tạo bởi các bó xơ mịn và được kết chặt đàn hồi 3) tế bào kết nối [5]. với nhau, tạo nên bề mặt da nhẵn phẳng và được gọi là lớp cật (grain).
Trong lớp này có chứa lượng lớn các túi chân lông, các tuyến mồ hôi, tuyến mỡ, các chùm sợi collagen mảnh [1, 5]. Lớp lưới: Được cấu tạo từ số lượng lớn các chùm sợi collagen đan bện với nhau và là lớp chặt chẽ và bền chắc nhất xác định độ bền của toàn bộ da và da lông thành phẩm. Độ dày của lớp lưới tăng đáng kể theo độ tuổi của động vật. Tỷ lệ độ dày các lớp của lớp bì dao động tuỳ thuộc vào loại động vật, các phần giải phẫu trên cơ thể động vật (vùng da), điều kiện nuôi dưỡng và thời gian giết mổ.
Da nguyên liệu từ các động vật khác nhau được đặc trưng bởi sự đan bện các chùm sợi collagen, có nghĩa là góc nghiêng và mật độ đan xen của chúng, đặc trưng này cũng thay đổi ở các vùng khác nhau của con da. Cấu tạo hóa học và tính chất của collagen • Thành phần hóa học của da nguyên liệu [1, 2, 3, 4, 5, 10]: Da gồm có 4 thành phần chính là: Nước, các chất khoáng, các chất béo và protein. Nước: Hàm lượng nước trong da khá lớn và phụ thuộc vào hàm lượng chất béo, tuổi, loài động vật và nhiều yếu tố khác. Khi hàm lượng chất béo trong da cao thì hàm lượng nước giảm.
Da động vật ít tuổi chứa nhiều nước hơn da động vật nhiều tuổi. Trong da bò lượng nước chiếm khoảng 60%. Trong da, nước tập trung chủ yếu ở lớp bì. Lớp biểu bì và bạc nhạc chứa ít hơn.
Nước trong da chia thành 2 loại: - Nước tự do: Nằm giữa các khoảng trống của các sợi collagen. Nước tự do chiếm 60% toàn bộ lượng nước có trong da. Phần nước này dễ dàng bị tách ra trong quá trình bảo quản và ép nước. - Nước tham gia liên kết: Chiếm 40% toàn bộ lượng nước chứa trong da.
Chúng liên kết chặt chẽ với sợi collagen tạo thành một hệ keo nên người ta còn gọi là “nước keo”. Ngoài ra nước còn liên kết bằng nhiều mối liên kết khác rất bền vững, muốn tách ra phải dùng phương pháp hóa học và sấy khô. Các khoáng chất: Các chất khoáng chiếm một lượng nhỏ, khoảng 0,5% khối lượng da. Chúng tồn tại dạng các muối vô cơ của các kim loại khác nhau như: Mn, Cu, Fe, Al, Si, Mg… Các khoáng chất này hầu như không ảnh hưởng gì đến quá trình thuộc da.
6 Các chất béo: Các chất béo trong da bao gồm các este, sáp, rượu bậc cao (10 - 35 chức). Hàm lượng chất béo có trong da liên quan chặt chẽ đến hàm lượng nước, phụ thuộc vào chế độ chăn nuôi, khí hậu… Các chất béo là những chất quan trọng trong da động vật. Thông thường các chất béo chứa trong lớp bì và lớp bạc nhạc. Protein: Bằng kính hiển vi điện tử, người ta đã quan sát thấy protein của da gồm 2 phần: Phần có cấu trúc xơ và phần không có cấu trúc xơ.
- Phần protein có cấu trúc xơ: Là thành phần cơ bản của da, trong đó gồm có collagen, reticular và elastin. - Phần protein không có cấu trúc xơ gồm albumin tan tốt trong nước và globumin không tan trong nước và tan trong kiềm. Phần protein này nằm giữa khoảng trống của collagen. Hàm lượng của protit trong da tươi là 30 - 32%, hàm lượng collagen trong da sau khi sấy khô là 80%.
Khi tăng nhiệt độ, xơ collagen co lại. Nếu bị đun nóng, xơ collagen trương nở rồi tan vào trong nước tạo hệ gelatin. • Cấu tạo hóa học của collagen: Collagen được hình thành từ các đơn vị thành phần là các axit amin. Tất cả các axit amin đều có chứa các nhóm cacboxyl và amino, chúng chỉ khác nhau về cấu trúc của mạch nhánh (R).
Cấu trúc tổng quát của axit amin được mô tả trong hình 1. Với axit amin đơn giản nhất (glyxin) thì R là nguyên tử hydro hình 1. Với các axit amin khác thì cấu tạo nhánh có thể là các nhóm phân cực hoặc không phân cực và có thể có các độ dài khác nhau [4]. Cấu trúc tổng quát của amino axit (a); glyxin (b) Các mạch nhánh không phân cực của axit amin chỉ bao gồm C và H.
Các mạnh nhánh phân cực có chứa các nguyên tử O và N, chúng có thể chứa nhiều nhóm chức khác nhau như: hydroxyl và cacboxyl, amino hoặc amit [4]. Collagen được cấu thành từ 20 axit amin khác nhau. Các axit amin này được liên kết với nhau thông qua các mối liên kết peptit tạo thành các mạch có độ dài khoảng 300 nm. Tính chất của các collagen thay đổi phụ thuộc vào trình tự sắp xếp của các phân tử axit amin dọc theo chiều dài mạch polypeptit [4].
Thông thường trong một phân tử collagen có chứa khoảng 1000 đơn vị axit amin đơn giản. Trong số các axit amin hình thành nên collagen thì nhiều nhất là glyxin chiếm 30%, sau đó là prolin (10%) và hydroxyprolin (10%). Collagen được coi là loại protit duy nhất có chứa lượng lớn hydroxyprolin (12,83g trong 100g protit). Vì vậy, việc xác định hàm lượng axit amin này đôi khi được sử dụng để xác định hàm lượng collagen trong da nguyên liệu.
Cấu tạo của các axit amin cơ bản hình thành nên collagen được thể hiện trong (hình 1. 7 Glyxin Prolin Hydroxyprolin Hình 1. Cấu tạo của các amino axit cơ bản hình thành nên collagen [4]. Mối liên kết của các axit amin hình thành nên các cấu trúc chuỗi của collagen là liên kết peptit [4].
Liên kết peptit giữa hai axit amin [4]. Nhiều phân khúc của mạch polypeptit trong phân tử collagen được cấu tạo từ việc sắp xếp lặp đi lặp lại các đơn vị tripeptit đơn giản (Gly-X-Y-). Trong đó X thường là prolin hoặc hydroxyprolin. Cấu trúc mạch vòng của prolin và hydroxyprolin đã tạo cho mạch polypeptit có cấu tạo hình trôn ốc [4].
Mỗi phân tử collagen được hình thành bởi ba mạch polypeptit xoắn lại với nhau tạo thành cấu trúc dạng lò xo ba lần (hình 1. Liên kết giữa các mạch polypeptit của collagen là liên kết vanđecvan, liên kết hyđro và liên kết ion [4]. Ngoài collagen, trong da còn có procollagen (một loại protein) tương tự như collagen, cũng có cấu tạo dạng lò xo ba lần hoặc có cấu tạo mạng polypeptit song song. Sợi retikulin tạo thành một màng lưới bao phủ trên bề mặt của collagen.
Sợi elastin đàn hồi có chiều dài và độ dày khác nhau, cũng tạo thành cấu trúc mạng lưới. Chúng tập trung nhiều nhất ở phía mặt cật [4]. Xơ mịn Phân tử Dạng lò xo ba lần Chuỗi Alpha Mạch axit amin (a) (b) Hình 1. Cấu trúc mạch polypeptit đơn (a); cấu trúc bậc ba của collagen (b) [4] Sự định hình hình dạng không gian của các đại phân tử protit phần lớn được xác 8 định bởi sự tác động giữa và trong các phân tử.
Trong số đó quan trọng nhất là các liên kết hidro và disyunfit. Các liên kết hidro trong protit xuất hiện nhờ các nguyên tử hidro giữa các nguyên tử nitơ và oxi của nhóm peptit [4, 171]. Dạng lò xo ba lần Chu kỳ D Chu kỳ D Xơ mịn collagen Sợi collagen Bó sợi collagen Mặt cắt ngang Hình 1. (a) Cấu trúc phân cấp của xơ da.
Trong da, xơ mịn chứa khoảng 700 - 800 phân tử colagen, còn đường kính của nó khoảng 100 nm. Một phân tử colagen chứa 3 mạch peptit và mỗi mạch peptit chứa 1052 gốc axit amino (amino axit radicals). Các gốc amino axit xoắn với nhau theo hình xoắn lò xo (triple helix), với độ dài khoảng 3 µm và đường kính xấp xỉ 1,4 nm. Tiếp theo khoảng 200 -1000 xơ mịn (Fibrils) kết hợp lại thành các xơ thành phần (elementery collagen) có đường kính 0,1 µm hay 100 nm.