MỞ ĐẦU Chè xanh (Camellia sinensis) có nhiều vitamin có giá trị dinh dưỡng và bảo vệ sức khỏe. Có tác dụng giải khát, bổ dưỡng và kích thích hệ thần kinh trung ương, giúp tiêu hóa các chất mỡ, giảm được bệnh béo phì, chống lão hóa… Do đó chè đã trở thành sản phẩm đồ uống thông dụng trên toàn thế giới. Chè được sử dụng hàng ngày và hình thành nên một tập quán tạo ra được nền văn hóa. Chè có giá trị sử dụng và là hàng hóa có giá trị kinh tế, sản xuất chè mang lại hiệu quả kinh tế khá cao góp phần cải thiện đời sống cho người lao động.
Hiện nay chè đã trở thành mặt hàng xuất khẩu có giá trị của Việt Nam, trong đó sản phẩm nổi tiếng nhất là chè Tân Cương, Thái Nguyên. Tuy nhiên chè là loại cây ua đạm, vì vậy trong quá trình canh tác, một luợng lớn phân đạm đặc biệt là ammonium sulfate đã được bón vào trong đất trồng chè nhằm tang hàm luợng amino axit trong lá chè, đồng thời tạo màu sắc hấp dẫn và hương vị đậm đà của sản phẩm chè. Khi cay chè hấp thụ một luợng lớn ammonium, còn sulfate được t ch tụ trong đất. Ngoài ra, ammonium được bón vào đất trồng chè nhanh chóng bị chuyển đổi thành nitrate bởi vi khuẩn nitrate hóa tự duỡng có khả năng chịu axit.
Hậu quả là một luợng đáng kể nitrate và sulfate được tích luỹ dần trong đất trồng chè, làm pH đất giảm xuống c n 4,0 hoạc thạm ch thấp hon, từ đó làm tăng hàm lượng nhôm linh động trong đất trồng chè. Trong điều kiện này, cây chè được cho là hấp thụ một lượng nhôm đáng kể, khi hàm lượng nhôm trong các sản phẩm chè quá cao có thể gây hại đến sức khoẻ (yếu thận cho người tiêu dùng. Hơn nữa, hàm lượng nhôm trong cơ thể người cao được giả thuyết là có mối liên kết với nhiều bệnh khác nhau như chứng mất tr não, xơ não, gãy xương và bệnh Alzheimer. Là một thành phần quan trọng của môi trường đất, vi sinh vật (VSV) đất chắc chắn bị ảnh hưởng bởi độc tính nhôm.
Tuy nhiên một số VSV có thể sống sót rất tốt trong đất axit và làm giảm độc tính nhôm nhờ các cơ chế kháng và hấp thụ kim loại. Vì vậy việc sử dụng hệ VSV có khả năng chịu axit, hấp thụ nhôm để cải thiện môi trường đất rất có tiềm năng và không thể phủ nhận rằng việc phân lập và 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiên cứu đặc tính của VSV hấp thụ nhôm cao là tiền đề cho biện pháp phục hồi sinh học đất trồng chè. Tuy nhiên nghiên cứu về khả năng chịu axit, hấp thụ nhôm của hệ VSV ở đất trồng chè tại Việt Nam chưa thực sự được quan tâm. Do vậy, đề tài hy vọng kết quả nghiên cứu này sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu sau này về khả năng chịu axit, hấp thụ nhôm ở đất trồng chè của VSV nhằm mục đ ch cải thiện môi trường đất mà vẫn đảm bảo hiệu quả sản xuất.
Trên cơ sở đó, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng chịu axit và hấp thụ nhôm của vi sinh vật phân lập được từ đất trồng chè vùng Tân Cương, Thái Nguyên”. Mục đ ch của đề tài - Phân lập được các chủng VSV chịu axit và hấp thụ nhôm từ đất trồng chè vùng Tân Cương, Thái Nguyên. - Đánh giá được khả năng chịu axit và hấp thụ nhôm trong đất của các chủng VSV được phân lập. - Cung cấp cơ sở khoa học cho các nghiên cứu nhằm hạn chế hàm lượng quá cao của nhôm linh động trong đất, đảm bảo sự phát triển bền vững ngành chè ở nước ta.
Nội dung nghiên cứu - Xác định một số tính chất cơ bản độ ẩm, độ chua, C tổng số, N tổng số, P tổng số, hàm lượng chất hữu cơ, mật độ VSV tổng số và hàm lượng nhôm (tổng số và linh động) của một số mẫu đất trồng chè vùng Tân Cương, Thái Nguyên. - Phân lập hệ VSV chịu axit và hấp thụ nhôm từ một số mẫu đất trồng chè vùng Tân Cương, Thái Nguyên. - Tuyển chọn được các chủng VSV có khả năng hấp thụ nhôm cao từ các chủng VSV được phân lập. - Định danh các chủng VSV có khả năng chịu axit và hấp thụ nhôm cao được tuyển chọn.
- Nghiên cứu khả năng chịu axit và hấp thụ nhôm của các chủng VSV tuyển chọn. - Sơ bộ đánh giá khả năng ứng dụng hỗn hợp VSV nhằm hạn chế hàm lượng nhôm linh động trong đất trồng chè. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. Tổng quan về cây chè và đất trồng chè 1.
Tổng quan về cây chè Chè xanh (Camellia sinesis) là cây công nghiệp dài ngày, chỉ một lần trồng cho thu hoạch 30-40 năm, là loài cây mà lá và chồi của chúng được sử dụng để sản xuất chè. Trong lá chè tươi có rất nhiều thành phần trong đó nước chiếm hàm lượng nhiều nhất. Trong chè cũng có rất nhiều các loại vitamin, chính vì vậy giá trị dược liệu cũng như giá trị dinh dưỡng của chè rất cao. Theo các tài liệu của Trung Quốc, hàm lượng một số vitamin trong chè tính theo mg/1000 g chất khô như sau: Vitamin A: 54,6; vitamin B1: 0,70; vitamin 2: 12,20; PP: 47,0; C: 27,0… Đáng chú ý nhất là hàm lượng vitamin C ở trong chè nhiều hơn trong cam, chanh từ 3-4 lần.
[5] Nước chè là loại nước giải khát rất tốt cho con người. Chè cũng là một chất lợi tiểu, kích thích hệ thống tuần hoàn máu và hô hấp. Chè xanh được sử dụng thích hợp như là một nguồn cung cấp các chất chống oxy hóa chữa bệnh. Lá của nó bao gồm một chất chống oxy hóa rất đặc biệt được gọi là EGCG (epigallocatechin- gallate) cũng như các chất chữa bệnh đáng chú ý khác, bao gồm fluoride, catechin và tannin.
Cụ thể, chè xanh c n được sử dụng làm thức uống phòng ngừa và chống ung thư vú, dạ dày và da. Các chất chống oxy hóa EGCG chuyển động trong cơ thể tạo thành một quá trình gọi là apoptosis và tế bào chết, chỉ xảy ra và ảnh hưởng đến tế bào ung thư, không gây ảnh hưởng gì khác tới những người khỏe mạnh. EGCG cũng có thể làm tăng cường quá trình hoạt động chống oxy hóa tự nhiên của cơ thể, thuận lợi loại bỏ các phân tử oxy gây hại được gọi là các gốc tự do. Bên cạnh đó, các chất chống oxy hóa có thể ngăn ngừa và làm giảm mức độ nghiêm trọng của viêm xương khớp và các hợp chất tannin làm se lại có thể làm giảm chứng khó tiêu, tiêu chảy và các dạng triệu chứng khác của đau bụng.
Nói cách khác, nồng độ chất chống oxy hóa cao dường như tăng cường tuổi thọ bằng cách chống lại bệnh tim, ung thư và các bệnh khác [5]. Chè có tác dụng làm sáng mắt, trí óc sảng khoái, nhuận tràng, vô hiệu hóa nhiều chất độc trong cơ thể. Nó có tác động vào tim, phổi 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và bao tử. Polyphenol còn tác dụng lên enzyme chuyển đường glucotransferase, tăng sức chống đỡ axit của men răng đồng thời chống sự cấu tạo mảng răng.
Vì vậy chè là một thành phần trong thuốc đánh răng hay trong nước súc miệng ngừa sâu răng, chống viêm khớp răng, nhai lá chè thay cho kẹo chewing gum chống được hôi miệng, thơm hơi thở. Bã chè cũng làm phân bón rất tốt. Uống chè là một thói quan truyền thống không những của người Việt mà còn là hoạt động văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc của nhiều nước trên thế giới. Việt Nam được xác định là một trong tám cội nguồn của cây chè.
Có điều kiện địa hình, đất đai, kh hậu phù hợp cho cây chè phát triển cho chất lượng cao. Hiện sản phẩm chè của Việt Nam đã có mặt trên 110 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đặc biệt thương hiệu “CheViet” đã được đăng ký và bảo hộ trên rất nhiều thị trường của các quốc gia trên thế giới và khu vực. Việt Nam hiện đang là quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới về sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu chè, là một trong những nước có lịch sử trồng chè lâu đời.
Hiện nay, ở Việt Nam cây chè đã được phân bố rộng trên phạm vi cả nước, hình thành lên nhiều vùng chè tập trung như: vùng Tây ắc (gồm Sơn La, Lai Châu), vùng Việt Bắc- Hoàng Liên Sơn gồm Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai), vùng Trung du Bắc Bộ (gồm Phú Thọ, nam Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Bắc Kanj, Bắc Giang, Thái Nguyên), vùng Bắc Trung Bộ (gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh , vùng Tây Nguyên gồm Gia Lai, Kontum, Lâm Đồng). Cây chè trung du được trồng ở vùng Tân Cương, Thái Nguyên cho hương vị thơm ngon hơn hẳn khi trồng ở các vùng khác. Chè Tân Cương có hương thơm tự nhiên, vị đượm, chát nhẹ, màu nước xanh, sau khi uống có vị ngọt còn lắng sâu trong vị giác người thưởng thức. Thái Nguyên nổi tiếng với cây chè là bởi điều kiện thổ nhưỡng nơi đây rất thích hợp để trồng nên cây chè cho ra loại chè ngon.
Có nhiều vùng trồng chè trên địa bàn tỉnh, tuy nhiên vùng chè Tân Cương tại thành phố Thái Nguyên được biết đến là vùng chè nổi tiếng nhất tỉnh Thái Nguyên. Chè Tân Cương đã khẳng định thương hiệu trên thị trường trên 100 năm nay. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tổng quan về đất trồng chè So với một số cây trồng khác, chè yêu cầu về đất không nghiêm khắc lắm.
Song để cây chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè cần đáp ứng một số yêu cầu như: độ chua, độ sâu và độ ẩm, hàm lượng chất hữu cơ… T nh chất chung của đất trồng chè Việt Nam là có phản ứng axit từ chua đến chua nhẹ, hàm lượng chất hữu cơ khoảng 1-2%, nghèo lân, kali, canxi, magie và có hàm lượng sắt, nhôm cao. Ngoài ra đất trồng chè còn có thành phần cơ giới nặng, chủ yếu do được hình thành trên các đá mẹ giàu sét, cấu trúc kém và t tơi xốp. Nhiều nghiên cứu cho thấy đất trồng chè của nước ta có hàm lượng chất hữu cơ ở mức thấp và dao động từ rất nghèo đến trung bình thường <2). Ở những vùng trồng chè có điều kiện khí hậu thuận lợi cho sự t ch lũy chất hữu cơ và t bị xói mòn rửa trôi thì hàm lượng chất hữu cơ đạt ở mức khá [2; 3].