Chương 1: Tổng quan điều kiện địa chất, thủy văn và các loại vật liệu sử dụng làm đường ở Tây Ninh. Chương 2:Thực trạng thiết kế, thi công và nghiệm thu móng đường đá dăm 4x6 kích cỡ mở rộnghiện nay ở Tây Ninh. Chương 3:Thí nghiệm xác định các chỉ tiêu kỹ thuật cần thiết phục vụ cho thiết kế, thi công và nghiệm thu móng đường đá dăm 4x6 kích cỡ mở rộng.1 Tổng quan về điều kiện địa chất, thủy văn và các loại vật liệu làm đường ở Tây Ninh. Tây Ninh là một tỉnh biên giới thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có diện tích tự nhiên 4.039,66 Km2, với các tuyến giao thông huyết mạch như: QL.22B…kết nối Tây Ninh với các tỉnh, thành lân cận.
Tỉnh nằm ở vị trí cửa ngõ Tây Bắc TP.Hồ Chí Minh là cầu nối gần nhất giữa TP. HCM và Thủ đô PhnômPênh (Campuchia), có tiềm năng đặc biệt về phát triển kinh tế cửa khẩu (có 2 cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài và Xa Mát; 4 cửa khẩu chính và nhiều cửa khẩu phụ khác). Cùng với thế mạnh trên tỉnh Tây Ninh còn có nhiều thuận lợi để phát triển du lịch, dịch vụ: Khu bảo tồn rừng quốc gia Lò Gò–Xa Mát, núi Bà Đen, Hồ Dầu Tiếng, các di tích lịch sử… - Vị trí phía Tây và phía Bắcgiáp ba tỉnh Svay-Riêng, Kông Pông Chàm, Prey-veng của Vương quốc Campuchia; - Phía Đông giáp tỉnh Bình Dương, Bình Phước; - Phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An. Tây Ninh có 9 đơn vị hành chính bao gồm Tp Tây Ninh và 8 huyện: Huyện Tân Biên, huyện Tân Châu, huyện Dương Minh Châu, huyện Châu Thành, huyện Hòa Thành, huyện Gò Dầu, huyện Bến Cầu, huyện Trảng Bàng.
Dân số: Theo số liệu thống kê năm 2011, dân số toàn tỉnh là 1.738 người, mật độ dân số là 268 người/Km2, phân bố dân cư không đồng đều. Huyện Hòa Thành có mật độ dân số theo diện tích tự nhiên cao nhất đạt 1.695 người/Km2, thấp nhất là huyện Tân Biên có 111 người/Km2, thị xã Tây Ninh có mật độ là 909 người/Km2 Lao động: Năm 2011, tổng số lao động là 622.049 người, trong đó: lao động ngành nông-lâm-ngư nghiệp là 280.805 người chiếm tỷ lệ cao nhất 45,1%; 5 công nghiệp chế biến-chế tạo là 105.556 người, chiếm 17%, còn lại là các ngành nghề khác như: thương nghiệp, sửa chữa xe có động cơ, môtô; xây dựng; dịch vụ lưu trú, ăn uống; tài chính; giáo dục, đào tạo. Tài nguyên đất: Tây Ninh có 5 nhóm đất chính với 15 loại đất khác nhau theo nguồn gốc phát sinh. - Nhóm Đất xám: Gồm 6 loại với diện tích 339.833 ha chiếm khoảng 84,37% diện tích tự nhiên và phân bố trên toàn tỉnh.
- Nhóm đất phèn: Gồm 3 loại với diện tích 25.359 ha, chiếm 6,3% diện tích tự nhiên, chủ yếu phân bố ở Châu Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng. - Nhóm đất đỏ vàng: Gồm 3 loại chiếm tỷ trọng không lớn, khoảng 1,6% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở vùng đồi núi huyện Tân Biên, Hoà Thành. Loại đất này có thể được sử dụng để phát triểm lâm nghiệp. - Nhóm đất phù sa: Gồm 2 loại chiếm 0,44% diện tích tự nhiên, hình thành do bồi tích của các con sông nên thích hợp trồng các loại lúa nước và rau màu.
- Nhóm đất than bùn: Bị chôn vùi có diện tích rất nhỏ, chiếm 0,27% diện tích tự nhiên của tỉnh. Chủ yếu phân bổ tại huyện Bến Cầu, Châu Thành… Tài nguyên rừng: Đất lâm nghiệp Tây Ninh có 41 nghìn ha, chiếm hơn 10% diện tích tự nhiên. Rừng ở Tây Ninh thuộc loại rừng thưa, rừng hỗn giao tre, nứa và cây gỗ, đáng quý nhất là rừng cây họ dầu. Tài nguyên khoáng sản: Tây Ninh không có nhiều loại khoáng sản, chủ yếu thuộc nhóm nhiên liệu và khoáng sản phi kim loại, nguyên liệu gốm, vật liệu xây dựng… Địa hình: Tây Ninh nối cao nguyên Nam Trung Bộ với đồng bằng sông Cửu Long, vừa mang đặc điểm của một cao nguyên, vừa có dáng dấp, sắc thái của vùng đồng bằng.
Địa hình nghiêng theo hướng Đông Bắc-Tây Nam, phía Bắc địa hình đồi núi, độ cao trung bình từ 10-15 m, có núi Bà Đen cao 986 m cách thị xã Tây Ninh khoảng 10 Km. Phía Nam có địa hình đồng bằng với độ 6 cao trung bình thấp khoảng 3-4 m. Điều kiện này rất thuận lợi để phát triển nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, điện, nước…. - lớp phong hóa hữu cơ khoảng 0.5m; phía dưới lẫn sạn sỏi laterit màu nâu đỏ, nâu vàng, xám xanh.5m; phía dưới lẫn sạn sỏi màu nâu đỏ, nâu vàng, xám xanh.
Ng : Tây Ninh nằm trong vùng khí hậu tương đối ôn hòa, chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ đầu tháng 5 và kết thúc vào cuối tháng 11. Lượng mưa trung bình từ 1.200 mm, nhiệt độ trung bình là 27,4oC, độ ẩm trung bình vào khoảng 70-80%, tốc độ gió 1,7m/s và thổi điều hòa trong năm. Tây Ninh nằm trong vùng khí hậu tương đối ôn hòa, chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô.
Mùa khô bắt đầu từ đầu tháng 12 và kết thúc vào cuối tháng 4 năm sau. Tây Ninh nằm sâu trong lục địa ít chịu ảnh hưởng của bão, chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chủ yếu là gió Tây-Tây Nam vào mùa mưa và gió Bắc-Đông Bắc vào mùa khô. 7 của khu vực có nhiều thuận lợi cho công tác thi công công trình. Nên tránh thi công kéo dài nền đường và mặt đường bê tông nhựa trong mùa mưa.
Tây Ninh có hồ Dầu Tiếng với dung tích 1,58 tỷ m3 và 1.053 tuyến kênh có tổng chiều dài 1.000 Km đã phát huy hiệu quả trong cân bằng sinh thái, phục vụ tưới tiêu trong nông nghiệp, cung cấp nước cho nuôi trồng thủy sản, sinh hoạt tiêu dùng và cho sản xuất công nghiệp. Ngoài ra Tây Ninh còn có nhiều suối, kênh, rạch tạo ra một mạng lưới thủy văn phân bố tương đối đồng đều trên địa bàn, đạt 0,314 Km/Km2 và hai con sông lớn chảy qua (sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông). - Sông Sài Gòn: Bắt nguồn từ vùng đồi Lộc Ninh (thuộc tỉnh Bình Phước) cao trên 200m chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, làm ranh giới tự nhiên giữa Tây Ninh và 2 tỉnh Bình Phước. - Sông Vàm Cỏ Đông: Bắt nguồn từ độ cao 150m ở Campuchia chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, sông Vàm Cỏ Đông có chiều dài 220Km (151Km chảy trong địa phận Tây Ninh).
M c nước cao xuất hiện vào mùa mưa, trong đó đạt cao nhất vào khoảng tháng 8-10; thời gian còn lại là thời kỳ mực nước thấp, trong đó đạt thấp nhất vào khoảng tháng 2 - tháng 3. Kết quả tính toán thủy lực, thủy văn công trình được thể hiện chi tiết trong báo cáo riêng, dưới đây chỉ tóm tắt một số số liệu mực nước sử dụng trong thiết kế công trình như sau: Cao độ mực nước ứng với tầng suất H1% : +2.29, Cao độ mực nước ứng với tầng suất H4% : +1,65, Cao độ mực nước ứng với tầng suất H5% : +1,54, Cao độ mực nước ứng với tầng suất H99% : -1,32, Nguồn nước ngầm ở Tây Ninh phân bố rộng khắp trên địa bàn, tổng mức nước ngầm có thể khai thác là 50 – 100 nghìn m3/giờ; vào mùa khô vẫn có thể 8 khai thác nước ngầm, bảo đảm chất lượng cho sản xuất và đời sống của người dân.1 Bản đồ tỉnh Tây Ninh 9 1.2 Tổng quan về công nghệ sản xuất và sử dụng vật liệu thi công các lớp áo đường ở Tây Ninh.1 Đất chọn lọc: dựng đường. ở Hầu hết các đường giao thông nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đều sử dụng làm nền đường, các đường tỉnh lộvà quốc lộ trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đều sử dụng làm lề, làm lớp đất đắp K95. Trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có khoảng 120 Km đường giao thông nông thôn còn sử dụng làm đường.
C Thảm thực vật gồm có như: sát mặt đất là - 10 khai thác hợp lý nhất là đào lộ thiên bằng máy xúc gầu nghịch và vận chuyển bằng ô tô. Nên tổ chức khai thác theo sự quy hoạch nhất định để tiết kiệm vật liệu v tạo ra các hố lớn đọng nước, đào quá sâu làm thay đổi quá nhiều tới cảnh quan xung quanh.2 : Hiện nay,ở tỉnh Tây Ninh huyện nào cũng sử dụng cấp phối sỏi đỏ trong xây dựng đường. Tuy nhiên trữ lượng cấp phối sỏi đỏ tập trung ở các huyện Tân Châu, huyện Tân Biên, huyện Châu Thành, huyện Bến Cầu. Huyện Tân Châu : cấp phối sỏi đỏ có nhiều tại các hầm đất xã Tân Thành, hầm đất xã Tân Hà,hầm đất xã Tân Hiệp, hầm đất xã Tân Phú, hầm đất xã Tân Hội.
Huyện Tân Biên :cấp phối sỏi đỏ có nhiều tại các hầm đất xã Thạnh Tây, hầm đất xã Tân Phong, hầm đất xã Tân Lập, hầm đất xã Tân Bình, hầm đất xã Hòa Hiệp. Huyện Châu Thành: cấp phối sỏi đỏ có nhiều tại các hầm đất xã Thái Bình, hầm đất xã Phước Vinh, hầm đất xã An Cơ, hầm đất xã Hòa Hội, hầm đất xã Chí Bình. Huyện Bến Cầu: cấp phối sỏi đỏ có nhiều tại các hầm đất xã Long Giang, hầm đất xã Long Trữ, hầm đất xã Long Phước, hầm đất xã Bến Bình. Hầu hết các đường giao thông nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đều sử dụng cấp phối sỏi đỏ làm nền đường, các đường tỉnh lộ và quốc lộ trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đều sử dụng cấp phối sỏi đỏ làm gia cố lề, làm lớp đất đắp K95, một số tỉnh lộ chuẩn bị nâng cấp cải tạo như ĐT794 đang nghiên cứu phương án thiết kế sử dụng cấp phối sỏi đỏ có gia cố thay thế cho cấp phối đá dăm loại 2.
C - 11 trường, không tạo ra các hố lớn đọng nước, đào quá sâu làm thay đổi quá nhiều tới cảnh quan xung quanh.2 Hiện trạng mỏ Long Giang huyện Bến Cầu 12 1. Khai thác mỏ Long Giang huyện Bến Cầu 1. Hiện trạng mỏ Long Chữ 13 1. Khai thác mỏ Long Chữ 1.3 : 2 ), Châu, Dương Minh Châu.
Từ năm 2008 đến nay, nguồn đá cung cấp cho nhu cầu xây dựng trong tỉnh được tập trung khai thác tại các điểm mỏ ở Tây Nam núi Phụng và m Minh Châu, Tây Ninh).Số cơ sở tập trung khai thác đá trong toàn tỉnh trước đây là 05. Do nhiều cơ sở khai thác đá tập trung tại một khu vực nên đã gây ra nhiều bất cập, làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, đồng thời gây ra các tác động tiêu cực đến cảnh quan khu di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia đã được công nhận từ năm 1989.