CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 1.1 Các đặc điểm của đơn vị sự nghiệp có ảnh hưởng đến kế toán TSCĐ Đơn vị sự nghiệp công lập là những tổ chức được thành lập để thực hiện các hoạt động sự nghiệp. Hoạt động sự nghiệp là những hoạt động cung cấp dịch vụ công cho xã hội nhằm duy trì và đảm bảo sự hoạt động bình thường của xã hội. Hoạt động sự nghiệp không trực tiếp tạo ra của cải vật chất nhưng nó tác động trực tiếp tới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, có tính quyết định năng suất lao động xã hội. Những hoạt động sự nghiệp mang tính chất phục vụ là chủ yếu và không nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng TSNN năm 2008, đơn vị sự nghiệp công lập được chia làm hai nhóm: Đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính và đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính. Tương ứng với hai nhóm đơn vị sự nghiệp công lập là hai cơ chế quản lý, sử dụng tài sản nhà nước khác nhau. Nếu như đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính thực hiện quản lý, sử dụng tài sản nhà nước như cơ quan nhà nước, trừ khoản thu được từ thanh lý, nhượng bán tài sản (ngoài quyền sử dụng đất) được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, sau khi trừ đi các chi phí có liên quan, thì các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính được Nhà nước xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp. Ngoài các quyền, nghĩa vụ như cơ quan nhà nước, đơn vị được phép sử dụng tài sản nhà nước giao vào mục đích sản xuất, kinh doanh dịch vụ, cho thuê, liên doanh, liên kết (gọi tắt là mục đích kinh doanh).
Đơn vị thực hiện việc trích khấu hao tài sản cố định (toàn bộ hoặc phần tài sản cố định sử dụng vào mục đích kinh doanh) để hình thành quỹ khấu hao dùng cho việc tái tạo lại tài sản, thay vì ngân sách nhà nước phải cấp lại. Khi Nhà nước thực hiện các quyền điều chuyển, thu hồi phải bảo đảm cho đơn vị bảo toàn, phát triển vốn và tài sản được giao. Luan van 8 Xác định đơn vị sự nghiệp: Đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính là các đơn vị sự nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập (đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của luật kế toán). Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp công được phân thành 3 loại đơn vị thực hiện quyền tự chủ về tài chính: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động) Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động).
Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động). Việc xác định khả năng tự trang trải chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị sự nghiệp có thu dựa trên chỉ tiêu sau: Mức tự đảm bảo chi Tổng số nguồn thu sự nghiệp phí hoạt động = X 100% thường xuyên của Tổng số chi hoạt động thường xuyên đơn vị (%) Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí là đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyền bằng hoặc lớn hơn 100%, nhà nước không phải dùng ngân sách để cấp kinh phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị. Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động là đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên từ trên 10% đến dưới 100%. Nhà nước vẫn phải cấp một phần kinh phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị.
Luan van 9 Đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động là đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên từ 10% trở xuống. Áp dụng đối với đơn vị sự nghiệp có nguồn thu thấp hoặc không có nguồn thu, Nhà nước phải cấp toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị. Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp công được phân thành: Đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo. Đơn vị sự nghiệp y tế.
Đơn vị sự nghiệp văn hóa thông tin. Đơn vị sự nghiệp thể thao, truyền hình. Đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ, môi trường. Đơn vị sự nghiệp kinh tế (duy tu, sửa chữa đê điều …).
Đơn vị sự nghiệp khác.2 Một số vấn đề lý thuyết về tài sản cố định.1 Khái niệm: Để đảm bảo hoạt động của các đơn vị HCSN bình thường, hoàn thành các nhiệm vụ do nhà nước giao, các đơn vị HCSN phải có cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết. Phần lớn các tư liệu lao động tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật trong đơn vị HCSN là TSCĐ. Như vậy, TSCĐ là những tư liệu lao động chủ yếu và các tài sản khác có giá trị lớn và thời gian sử dụng dài theo quy định trong chế độ quản lý TSCĐ hiện hành. Tiêu chuẩn và nhận biết TSCĐ hữu hình: Theo Thông tư 162/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 06 tháng 11 năm 2014 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2015 thì tài sản cố định hữu hình: là những tài sản có hình thái vật chất, có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định, thỏa mãn đồng thời cả 2 tiêu chuẩn dưới đây: Có thời gian sử dụng từ 01 (một) năm trở lên; Có nguyên giá từ 10.000 đồng (mười triệu đồng) trở lên.
Luan van 10 Ngoài ra một số loại tư liệu lao động có thời gian sử dụng trên một năm trở lên nhưng có giá trị dưới 10.000 đồng vẫn được quy định là TSCĐ, gồm: Máy móc thiết bị quản lý văn phòng như: máy tính, máy in … Phương tiện vận tải, phương tiện đi lại công tác. Súc vật làm việc, súc vật cho sản phẩm, súc vật cảnh … Các loại sách quý về chuyên môn, khoa học, lịch sử … Các tác phẩm nghệ thuật, các di vật lịch sử, các vật kỷ niệm, lưu niệm … có giá trị nghệ thuật cao. Các loại nhà tranh, tre, nứa như: lớp học, nhà làm việc … Dụng cụ đồ gỗ, mây tre, đồ nhựa cao cấp. Các tư liệu lao động mặc dù có đủ tiêu chuẩn về giá trị nhưng dễ hỏng, dễ vỡ thì không coi là TSCĐ, như: các đồ dùng bằng thủy tinh, bằng sành sứ … trừ các dụng cụ thí nghiệm, nghiên cứu khoa học.
Tiêu chuẩn nhận biết tài sản cố định vô hình: Tài sản cố định vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất mà cơ quan, tổ chức, đơn vị đã đầu tư chi phí tạo lập tài sản như: Quyền sử dụng đất; phần mềm ứng dụng; quyền sở hữu trí tuệ theo quy định tại Luật sở hữu trí tuệ, thỏa mãn đồng thời cả 2 tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị của TSCĐ.2 Đặc điểm tài sản cố định Trong quá trình tham gia hoạt động sự nghiệp cũng như hoạt động SXKD, tài sản cố định có những đặc điểm sau: TSCĐ tham gia vào nhiều năm hoạt động hành chính sự nghiệp, cũng như vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh mà không thay đổi hình thái vật chất ban đầu. Trong quá trình tham gia vào các hoạt động, TSCĐ bị hao mòn dần, giá trị hao mòn TSCĐ được ghi giảm nguồn kinh kinh phí đã hình thành TSCĐ (đối với TSCĐ dùng vào hoạt động sự nghiệp), hoặc được tính vào chi phí SXKD (đối với chi dùng vào hoạt động SXKD).3 Phân loại và đánh giá tài sản cố định TSCĐ trong đơn vị HCSN gồm nhiều loại khác nhau, có kết cấu công dụng khác nhau, đểu thuận lợi cho công tác hạch toán và quản lý, cần phải tiến hành phân loại theo các tiêu thức sau: Theo hình thái và kết cấu TSCĐ. Theo tình hình sử dụng và công dụng của TSCĐ.1 Phân loại TSCĐ theo hình thái và kết cấu của TSCĐ Theo hình thái biểu hiện TSCĐ được phân thành TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình. Tài sản cố định hữu hình: TSCĐ hữu hình là các tài sản có hình thái vật chất cụ thể.
Theo kết cấu TSCĐ hữu hình được phân chia thành các loại sau: Nhà cửa, vật kiến trúc gồm: Nhà cửa: Nhà làm việc, nhà hát, bảo tàng, thư viện, hội trường, câu lạc bộ, cung văn hóa, nhà thi đấu thể thao phòng nghiên cứu, thực hành, lớp học nhà trẻ, nhà khám bệnh, nhà nghỉ, nhà an dưỡng, khí tài, thiết bị, nhà kho, chuồng trại gia súc. Vật kiến trúc: giếng khoan, giếng đào, sân chơi, bể chứa, cầu cống, hệ thống cấp thoát nước, đê, đạp, đường xá, sân vận động bể bơi, trường bắn, các lăng tẩm, tượng đài, tường rào. Máy móc thiết bị: Là các loại máy móc thiết bị dùng trong công tác chuyên môn của đơn vị và kể cả những máy móc thiết bị sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phục vụ nhu cầu phúc lợi của đơn vị. Phương tiện vận tải truyền dẫn: Phản ánh giá trị các phương tiện vận tải, truyền dẫn dùng trong công tác chuyên môn của đơn vị gồm: xe máy, ô tô, tàu thuyền, và các thiết bị truyền dẫn.
Phương tiện quản lý: Phản ánh giá trị các loại thiết bị và dụng cụ sử dụng trong công tác quản lý và văn phòng như: máy tính, quạt, bàn ghế thiết bị dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng. Luan van 12 Tài sản cố định khác: Phản ánh giá trị TSCĐ khác chưa được quy định, phản ánh các loại tài sản nêu trên.