CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ MỨC ĐỘ VẬN DỤNG KE TOAN QUAN TRI TRONG DOANH NGHIEP 1. TONG QUAN VE KE TOAN QUAN TRI (KTQT) 1. Dinh nghia va sy phat trién cia KTQT Kế toan quan tri (KTQT) 1A qué trinh xéc dinh, ghi nhan, xir ly, tng hop, phân tích thông tin kế toán nhằm trợ giúp các nhà quản trị trong việc ra quyết định, nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức (Horngren, 1996). Theo Chenhall (2003), các thuật ngữ KTQT, hệ thống KTQT, kiểm soát quản lý, kiểm soát tổ chức có thể được sử dụng đề thay thế nhau.
Ông nhắn mạnh ring: “KTQT dé cập đến các công cụ như dự toán, tính giá thành sản phẩm, trong khi hệ thống. KTQT đề cập đến việc sử dụng KTQT một cách có hệ thống để đạt được những mục tiêu nhất định” (Chenhall, 2003, tr. Dearden (1988) cho rằng KTQT có 4 chức năng: kiểm soát, hỗ trợ ra quyết định, đo lường sự thay đổi và thiết lập mục tiêu. Theo luật kế toán Việt Nam thì “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” [40, tr.9] Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về hệ thống KTỌT, nhưng các định nghĩa này đều có điểm chung là hệ thống KTQT tạo ra thông tỉn trợ giúp nhà quản trị trong việc lập dự toán, phối hợp hoạt động, giám sát, và đánh giá thành quả hoạt động của từng bộ phận cũng như toàn đơn vị (MacDonald, 1999).
Theo IPAC (1988, tr. 84), sy phat trién cla KTQT da trai qua 4 giai đoạn, từ trước năm 1950 đến năm 1995, cụ thể như sau: Giai đoạn 1: Trước năm 1950: KTQT tập trung vào việc xác định chỉ phí và kiểm soát tài chính thông qua việc lập dự toán và kế toán chỉ phí. Giai doan 2: Tir 1950 — 1965: KTQT chuyén sang tap trung vao viée cung cấp thông tin cho hoạch định và kiểm soát quản lý thông qua việc sử dụng các kỷ thuật phân tích quyết định và kế toán trách nhiệm. Giai đoạn 3: Từ 1965 ~ 1985: KTQT quan tâm đến việc giảm sự lãng phí các nguồn lực trong quá trình kinh doanh thông qua việc phân tích quy trình và tái cấu trúc hệ thống.
Giai đoạn 4: Từ 1985 - 1995: KTQT tập trung vào việc tạo thêm giá trị thông qua việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đã sử dụng công nghệ thông tin và tài nguyên trí thức để kiểm tra các tiêu thức về giá trị khách hàng, giá trị cỗ đông và đôi mới tổ chức. Sự phát triển của kế toán quản trị Evolution of Management Accounting Stage 4 Ongoing : ‘Transformation __ Tu Cơn Information Reduction of Creation of Value tong Determination for Waste of through Effective and Financial Management Resources in Resource Use Controt Planning and Business Control Processes (Nguén: IFAC, 1998, tr. 85) “Từ những năm 1995 dén nay, KTQT là một bộ phận cấu thành quá trình quản lý, hướng đến mục tiêu tạo ra giá trị cho các bên liên quan và sự thay đổi của tổ chức thông qua việc sử dụng các kỹ thuật đánh giá các yếu tố tạo nên giá trị và xây dựng chiến lược phát triển bền vững. Nhu vay, KTQT da phát triển qua từng giai đoạn để thích ứng với môi trường mới, phù hợp với mục tiêu của DN.
Do đó, DN phải định hình lại, tái cấu trúc các công cụ và kỹ thuật phù hợp để duy trì sự cạnh tranh trên thị trường. Về phương diện các công cụ KTQT được áp dụng, Kaplan (1984) cho rằng, mặc dù có sự thay đổi lớn trong cơ cấu của các tô chức cũng như mức độ cạnh tranh từ 1925 đến giữa thập niên 1980, nhưng có ít sự thay đổi của các công cụ KTQT trong thời gian này về mặt phát triển những công cụ KTQT mới cũng như việc áp dụng các công cụ KTQT hiện có. Từ giữa những năm 80, nhiều công cụ KTQT mới được giới thiệu và được vận dụng cho quản trị DN để thích ứng với sự gia tăng của cạnh tranh trên toàn cầu như tính giá dựa trên hoạt động, dự toán dựa trên hoạt động, thẻ cân bằng điểm. Chenhall và Langfield-Smith (1988) chia các công cụ KTQT thành hai nhóm: các công cụ KTQT truyền thống và các công cụ KTQT hiện đại.
Ông nhận định rằng các công cụ KTQT truyền thống đặt trọng tâm vào nội tại (internal) và dựa trên các thông tỉn tài chính, các công. cụ KTQT hiện đại lại đặt trọng tâm vào vấn đề chiến lược của DN và dựa trên cả thông tỉn tài chính và phi tài chính, cả quá khứ và định hướng tương lai, và những thông tin này có được từ cả bên trong và bên ngoài Doanh nghiệp. Sulaiman và cộng sự (2004) cũng phân KTQT ra làm 2 loại: truyền thống và hiện đại. Các công cụ KTQT truyền thống gồm tính giá tiêu chuẩn, phân tích mối quan hệ chỉ phí-sản lượng-lợi nhuận, ROI, dự toán.
Các công cụ KTQT. hiện đại như quản trị chất lượng toàn diện, tính giá dựa trên hoạt động, chỉ phí 10 mục tiêu, thể điểm cân bằng. Cũng đồng với quan điểm này, Hyvonen (2005) xem KTQT truyền thống gồm hệ thống dự toán phục vụ cho lập kế hoạch, kiểm soát và đánh giá thành quả, trong khi đó các công cụ như kỹ thuật dựa trên hoạt động, đo lường thành quả dựa trên sự cân đối, dựa trên nhân viên, hoặc liên quan đến hoạch định chiến lược được xem là các công cụ KTQT hiện đại. Vai trò của KTQT trong Doanh nghiệp Một số nghiên cứu đã nói lên rằng vai trò của KTQT đã có những thay đổi quan trọng.
Siegel và Sorensen (1999) cho rằng, vai trò của KTQT đã thay đổi với tốc độ nhanh hơn giữa những năm 1995 và 1999 so với khoản thời gian 5 năm, và ông cũng cho rằng tốc độ này sẽ còn tiếp tục tăng trong 3 năm tiếp theo. Tương tự, Burns (1999) chỉ ra rằng, trong một số doanh nghiệp, kế toán đang dần thay đổi chức danh công việc của họ, trở thành “nhà phân tích kinh doanh” thay vì “kiểm soát công ty”. Sự thay đổi trong vai trò của KTQT cũng được xác định bởi một số nghiên cứu của Russel (1999), Zarowin (1997), Lobo (2004) được thể hiện như sau: - Phan tích kinh doanh - Hoạch định chiến lược - Tư vấn cho nội bộ DN hoặc đối tác - Cung cấp thông tin ~ Chức năng lãnh đạo nhóm - Thiết kế và quản lý hệ thống thông tin - Đào tạo và hướng dẫn 1. KTQT và lý thuyết ngữ cảnh (contingent theory) Lý thuyết ngữ cảnh về KTQT cho rằng “không có một hệ thống kế toán thống nhất nào có thể áp dụng cho tắt cả các DN trong mọi ngữ cảnh” (Otley, ll 1980).
Hay nói cách khác, một hệ thống KTQT thích hợp với DN lệ thuộc vào đặc điểm của DN đó, cũng như ngữ cảnh mà DN đó hoạt động. Các nghiên cứu dựa trên lý thuyết ngữ cảnh xem xét các công cụ KTQT vừa là biến độc lập, vừa là biến phụ thuộc. Khi xem KTQT là biến phụ thuộc, một vài nghiên cứu sử dụng lý thuyết này đề kiểm chứng mối quan hệ giữa việc sử dụng các công cụ KTQT và các nhân tố ngữ cảnh ảnh hưởng đến DN. Những nhân tố này bao gồm: môi trường hoạt động, cấu trúc DN, công nghệ, quy mô DN và chiến lược.
Khi xem KTQT là biến độc lập, một số nghiên cứu đã kiểm chứng mối quan hệ giữa việc sử dụng KTQT với thành quả của việc sử dụng KTQT. Lý thuyết ngữ cảnh sẽ được sử dụng trong nghiên cứu này để giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong ngữ cảnh của DN vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. CAC NGHIEN CUU VE KTQT 1. Công cụ KTQT được sử dụng a.
Cong cu KTQT được sử dụng ở các nước phát triễn Tại Anh, Drury và cộng sự (1993) nghiên cứu việ áp dụng các công cụ KTQT ở 303 Công ty sản xuất và phát hi rằng, có rất nhiều các công cụ KTQT được sử dụng. Mặc dù đã có nhiều sự điều chỉnh để phù hợp với lý thuyết, nhưng đó cũng là bằng chứng chứng minh sự phù hợp giữa lý thuyết và thực tiễn về việc vận dụng các công cụ KTQT. Chenhall và Langfield-Smith (1998) nghiên cứu việc áp dụng 42 công cụ KTQT (gồm cả công cụ KTỌT hiện đại và công cụ KTQT truyền thống) trong các công ty của Úc, các công cụ này được chia thành 5 nhóm dựa trên chức năng của KTQT gồm dự toán tài chính, dự toán hoạt động, tính giá, đánh giá thành quả, hỗ trợ ra quyết định. Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các công cụ này được sử dụng trong các công ty được khảo sát, tuy nhiên tỷ lệ 12 áp dụng các công cụ KTQT truyền thống cao hơn so với các công cu KTQT hiện đại, nhiều công ty cũng đang định hướng áp dụng một số công cụ mới trong tương lai gần, nhất là các công cụ KTQT dựa trên hoạt động và chuẩn so sánh.
Thêm vào đó, những công cụ liên quan đến thông tin phi tài chính cũng được sử dụng rộng rãi trong các DN nghiên cứu tại Úc. Trong một nghiên cứu gần đây của Hyvonen (2005) được thực hiện ở Phần Lan. Tác giả đã tìm thấy rằng, phần lớn các công cụ KTQT được sử dụng ở Phần Lan và 3 công cụ KTQT truyền thống được xem là hữu ích cao. nhất là lợi nhuận bộ phận trong việc đánh giá thành quả, dự toán cho việc kiểm soát chỉ phí và tính giá theo phương pháp trực tiếp, những công cụ này sẽ được tiếp tục sử dụng trong tương lai.
Nghiên cứu cũng cho ring, trong tương lai cần đưa các công cụ phi tài chính để khảo sát sự hài lòng của khách hàng và thái độ của nhân viên. Trong một khảo sát khác, Abdel-Kader và Luther (2006) nghiên cứu việc vận dụng 38 công cụ KTQT vào các DN trong ngành công nghiệp và nước giải khát ở Anh. Các công cụ này được chia thành 5 nhóm gồm tính gi: á, dự toán, đánh giá thành quả, thông tin cho việc ra quyết định và phân tích chiến lược. Kết quả khảo sát từ 122 DN cho thấy các công cụ KTQT truyền thống.
được sử dụng nhiều hơn so với các công cụ KTQT hiện đại như là phương pháp tính giá trực tiếp được sử dụng nhiều hơn phương pháp ABC, việc lập dự toán theo phương pháp truyền thống và phân tích lợi nhuận sản phẩm được sử dụng phô biến. Ngược lại, các công cụ KTQT hiện đại như thẻ điểm cân bằng, đo lường dựa trên thành quả tài chính được cho là rất quan trọng nhưng.