CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁTHÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất 1. Khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 1. Khái niệm chi phí sản xuất Theo CMKT Việt Nam số 01 “Chuẩn mực chung” (Ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính): “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”.
Theo Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 của BTC về Hướng dẫn chế độ kế toán DN: “Chi phí là những khoản làm giảm lợi ích kinh tế, được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh hoặc khi có khả năng tương đối chắc chắn sẽ phát sinh trong tương lai không phân biệt đã chi tiền hay chưa”. Theo Giáo trình kế toán tài chính trong các doanh nghiệp (GS.TS Đặng Thị Loan, 2009, trang 85): “Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm)”. Dưới góc độ kế toán quản trị, chi phí không đơn thuần được nhận diện là những chi phí đã phát sinh mà còn có thể là chi phí ước tính khi thực hiện một dự án hay giá trị lợi ích mất đi khi lựa chọn phương án này mà bỏ qua những cơ hội kinh doanh khác. Chi phí là nhân tố chủ yếu tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh.
Nhiệm vụ kiểm soát chi phí, dự toán biến động của chi phí đối với nhà quản trị là rất quan trọng. Luan van 8 Có thể kết luận rằng: Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ lao động sống và lao động vật hoá và chi phí khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm). Qua khái niệm ta thấy: Thứ nhất, chi phí sản xuất luôn được xem là sự kết tinh và hao phí sức lao động của con người (lao động quá khứ và lao động hiện tại). Ở những góc độ nghiên cứu khác nhau, ta có những loại chi phí khác nhau.
Song, bản chất của chi phí sản xuất vẫn là sự hao phí sức lao động của con người. Thứ hai, chi phí sản xuất phát sinh luôn gắn với mục đích và đối tượng nhất định. Điều này nói nên rằng, chi phí sản xuất luôn gắn với không gian, địa điểm, con người hay các quan hệ giao dịch cụ thể của quá trình sản xuất; Qua đó, ta biết chi phí sản xuất phát sinh nhằm đạt được mục đích gì. Thứ ba, chi phí sản xuất được xem xét và ghi nhận trong một khoảng thời gian nhất định.
Trên thực tế, chi phí sản xuất có thể phát sinh tại một thời điểm hoặc trong một khoảng thời gian cụ thể nào đó. Các khoảng thời gian được đặt ra thường là do yêu cầu của quản lý kinh tế của chủ thể quản lý. Nó thường gắn với thời kỳ lập các báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, một điều đáng lưu ý nữa là, độ lớn của các khoản chi phí bị ảnh hưởng bởi các nguyên tắc và tiêu chuẩn ghi nhận.
Chẳng hạn, với kế toán tài chính, chi phí sản xuất chỉ được ghi nhận khi nó phải đảm bảo tính hợp pháp, hợp lệ theo quy định của chế độ kế toán hiện hành. Qua đó, ta thấy rằng chi phí có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp, của quá trình cạnh tranh. Chi phí sản xuất không chỉ là mối quan tâm của doanh nghiệp mà còn là mối quan tâm của người tiêu dùng và của xã hội. Giảm chi phí sản xuất, làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp, tăng tính cạnh tranh của hàng hóa và làm tăng lợi ích cho người tiêu dùng.
Khái niệm giá thành sản phẩm Một trong những nguyên tắc kế toán được thừa nhận chung là nguyên tắc hoạt động liên tục. Theo đó, quá trình hạch toán được thực hiện trên giả định doanh Luan van 9 nghiệp hoạt động vô thời hạn hoặc ít nhất không bị giải thể trong tương lai gần. Trong quá trình đó, hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, các chi phí sản xuất không ngừng phát sinh và chuyển hóa thành giá trị của sản phẩm chế tạo. Việc xác định thời điểm, thời kỳ để tập hợp chi phí sản xuất và tính toán để có được một khối lượng sản phẩm hoàn thành nhất định, doanh nghiệp đã phải bỏ ra bao nhiêu chi phí, chỉ là một điểm ngắt chủ quan của chủ thể.
Do vậy, hiển nhiên là tại thời điểm tính toán đó, thường tồn tại những sản phẩm đã được hoàn thành và những sản phẩm còn đang chế tạo dở dang, chưa hoàn thành công đoạn sản xuất cuối cùng. Toàn bộ chi phí sản xuất tập hợp được trong kỳ nằm trong giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hoàn thành trong kỳ. Chi phí sản xuất tập hợp được tạo nên giá trị của sản phẩm hoàn thành được gọi là giá thành sản phẩm. Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng, công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành.
Xét về bản chất, giá thành sản phẩm là việc chuyển dịch vốn doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hoàn thành, nó có chức năng là: thước đo bù đắp chi phí và lập giá. Trên góc độ doanh nghiệp, việc tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng hay giảm giá thành sản phẩm. Đây là vấn đề các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm bởi vì giá thành sản phẩm càng thấp thì hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại. Do vậy, phấn đấu hạ giá thành sản phẩm là mục tiêu của tất cả các doanh nghiệp sản xuất.
Tóm lại, giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế tài chính của doanh nghiệp. Giá thành được tính toán chính xác cho từng loại sản phẩm hoặc lao vụ cụ thể (đối tượng tính giá thành) và chỉ tính toán xác định đối với số lượng sản phẩm hoặc lao vụ đã hoàn thành khi kết thúc một số giai đoạn công nghệ sản xuất (nửa thành phẩm). Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 1. Phân loại chi phí sản xuất Chi phí sản xuất có rất nhiều loại, nhiều khoản, khác nhau cả về nội dung, tính chất, công dụng, vai trò, vị trí… trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
Xuất phát từ các mục đích và yêu cầu khác nhau của quản lý, chi phí sản xuất cũng được phân loại theo những tiêu thức khác nhau. Xét về mặt lý luận, có nhiều cách phân loại chi phí, mỗi cách phân loại đều đáp ứng ít, nhiều cho mục đích quản lý, hạch toán, kiểm tra, kiểm soát chi phí phát sinh… ở các góc độ khác nhau. Vì thế, các cách phân loại đều tồn tại, bổ sung cho nhau và giữ vai trò nhất định trong quản lý sản xuất và giá thành sản phẩm. Dưới góc độ kế toán tài chính, chi phí sản xuất được phân loại theo các tiêu thức sau: a) Phân loại theo tính chất, nội dung kinh tế của chi phí Theo quy định hiện hành của Việt Nam, toàn bộ chi phí được chia thành 7 yếu tố chi phí sau: - Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ… sử dụng vào sản xuất kinh doanh (loại trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi); - Yếu tố chi phí nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất - kinh doanh trong kỳ (trừ số không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi); - Yếu tố chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp lương: phản ánh tổng số tiền lương và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho toàn bộ công nhân viên; - Yếu tố chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn: phản ánh phần bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả công nhân viên; - Yếu tố chi phí khấu hao tài sản cố định: phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố định phải trích trong kỳ của tất cả tài sản cố định sử dụng cho sản xuất - kinh doanh trong kỳ; - Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào sản xuất - kinh doanh; Luan van 11 - Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất - kinh doanh trong kỳ.
Ý nghĩa:Phân loại chi phí sản xuất theo tính chất kinh tế có ý nghĩa trong quản lý sản xuât, phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất, đồng thời là căn cứ để lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố ở bảng thuyết minh báo cáo tài chính, cung cấp tài liệu tham khảo để lập dự toán chi phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng vật tư, tính toán nhu cầu vốn lưu động cho kỳ sau. b) Phân loại theo mục đích công dụng của chi phí Theo tiêu thức phân loại này, chi phí sản xuất kinh doanh được chia làm hai loại là chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất. - Chi phí sản xuất: Là toàn bộ hao phí lao động sống và lao động vật hoá liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trọng một thời kỳ nhất định. Những khoản chi phí này thường phát sinh trong phân xưởng sản xuất, chế tạo sản phẩm.
Nó là cơ sở hình thành nên chỉ tiêu giá thành sản xuất hay giá thành công xưởng. Chi phí sản xuất bao gồm ba khoản mục chi phí là: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.