Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG TƢ VẤN PHÁP LÝ 1. Khái quát về hợp đồng dịch vụ 1. Khái niệm Hợp đồng trong từ điển tiếng Việt là (giao kèo, khế ước hay giấy ký kết) giữa hai hay nhiều đối tác khác nhau trong các mối quan hệ khác nhau trong xã hội, nhằm trao đổi thông tin thiết lập cam kết với nhau để thực hiện hoặc không thực hiện một công việc nhất định. “Các bộ cổ luật đã từng tồn tại ở Việt Nam (như Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long) không có quy định riêng về hợp đồng, Nghĩa là, trong các thời kỳ đó, ở Việt Nam chưa có luật riêng về hợp đồng dân sự, mặc dù trong thực tế hình thành rất nhiều quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể với nhau” [37, tr.
Năm 1991 Pháp lệnh hợp đồng ra đời, về mặt khách quan hợp đồng dân sự là một bộ phận các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau. Về mặt chủ quan, hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định. Hợp đồng dân sự được định nghĩa: “Hợp đồng dân sự là thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, mượn, tặng, cho tài sản, làm một việc hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng” [21, Điều 1]. Theo pháp lệnh này thì hợp đồng dân sự bao gồm cả hợp đồng dịch vụ bó hẹp, chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và tiêu dùng của một bên, là sự thừa nhận, yêu cầu của Nhà nước đối với các giao lưu dân sự đó.
Tại BLDS năm 1995, kế thừa và phát triển pháp luật, cụ thể hóa Hiến pháp 1992 định nghĩa về Hợp đồng dân sự nói chung: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận 5 z giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự” [31 Điều 394]. Qua đó, cũng tách định nghĩa riêng về: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa mãn giữa các bên, theo đó bên làm dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên làm dịch vụ” [31, Điều 521]. Như vậy, BLDS năm 1995 là một bước tiến hơn hẳn của pháp luật về Hợp đồng dịch vụ, theo đó thì BLDS đã qui định về Hợp đồng dịch vụ cụ thể từ điều 521 đến điều 529 về đối tượng, quyền và nghĩa vụ của các bên trong Hợp đồng dịch vụ. Ngày 14/6/2005, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 đã thông qua BLDS mới thay thế BLDS 1995, quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong các mối quan hệ gia đình, xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay.
Trong đó chế định về hợp đồng dân sự đã được khẳng định với 205 điều trên tổng số 777 điều luật (từ Điều 388 đến điều 593) đó là chưa kể đến 45 điều quy định về các hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất (từ điều 693 đến điều 732), chứng tỏ chế định hợp đồng dân sự nói chung thông dụng trong BLDS đóng vai trò rất quan trọng: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [31, Điều 388]. Điểm quan trọng trong BLDS năm 2005 là xây dựng chế định hợp đồng thành nền tảng cho pháp luật về hợp đồng nói chung, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm. Trong trường hợp pháp luật chuyên ngành về hợp đồng cụ thể có quy định riêng, thì ưu tiên áp dụng các quy định riêng đó. Vì vậy, phạm vi áp dụng các quy định về hợp đồng dân sự trong BLDS được mở rộng, áp dụng chung cho các loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế, thương mại.
Theo quan điểm của học viên hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổ i ý chí với nhau nhằ m đi đế n thoả thuâ ̣n để cùng làm phát sinh các quyề n và nghiã vu ̣ dân sự nhấ t đinh ̣. Viê ̣c trao đổ i ý chí này của các bên là tự nguyê ̣n và tự do nhưng vẫn phải theo quy đinh ̣ của pháp luâ ̣t. Theo đó, các bên sẽ chuyể n giao tài sản hay thực hiê ̣n mô ̣t công viê ̣c cho bên kia theo thoả thuâ ̣n trong 6 z hơ ̣p đồ ng ; hoă ̣c thoả thuâ ̣n giữa các bên về sự thay đổ i hay chấ m dứt quyền và nghĩa vụ đó. BLDS năm 2005 cũng phân biệt rõ hợp đồng dân sự khác với giao dịch dân sự như: “Giao dịch dân sự là hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [32, điều 121].
Còn “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [32, điều 388] Trong trường hơ ̣p pháp luâ ̣t không quy đinh ̣ , hợp đồng dân sự có thể được giao kế t bằ ng lời nói , bằ ng văn bản hoă ̣c bằ ng hành vi cu ̣ thể. Còn đối với những hợp đồng dân sự mà pháp luật đã quy đinh ̣ buô ̣c phải giao kế t theo mô ̣t hin ̀ h thức nhấ t đinh ̣ thì các bên phải tuân theo hình thức đó. Hiê ̣n nay, có rất nhiều loại hợp đồng dân sự thông du ̣ng, có thể kể đến như hơ ̣p đồ ng mua bán tài sản , hơ ̣p đồ ng trao đổ i tài sản , hơ ̣p đồ ng tă ̣ng cho tài sản , hơ ̣p đồ ng vay tài sản , hơ ̣p đồ ng dich ̣ vu ̣. Xã hội ngày càng phát triển , đi cùng với đó là các dịch vụ ra đời , VD: dịch vụ sửa tài sản , dịch vụ pháp lý , dịch vụ quảng cáo.
Khi thực hiê ̣n dịch vụ, người thuê dich ̣ vu ̣ và người thực hiê ̣n dich ̣ vu ̣ sẽ thoả thuâ ̣n với nhau về các đi ều kiện cung ứng dịch vụ , điề u này phầ n nào giải thić h ta ̣i sao họp đồng dịch vụ lại ra đời. Hợp đồng dịch vụ được qui định từ Điều 518 đến Điều 526 BLDS năm 2005. Bản chất hợp đồng dịch vụ là sự kết hợp gi ữa bản chấ t của hợp đồng dân sự với bản chất của dịch vụ (đố i tươ ̣ng của hơ ̣p đồ ng ). Hợp đồng dịch vụ đươ ̣c hình thành trên cơ sở tự do thể hiện ý chí thỏa thuận trong khuôn khổ pháp luật cho phép giữa bên cung ứng dich ̣ vu ̣ với bên thuê dich ̣ vu ̣ nhằ m làm phát sinh ràng buô ̣c pháp lý như bên cung ứng dich ̣ vu ̣ phải thực hiê ̣n mô ̣t công viê ̣c mang tính dịch vụ xác định cho bên thuê dịch vụ hoặc ngườ i thứ ba (trong trường hơ ̣p , hợp đồng dịch vụ vì lợi ích của người thứ ba ), bên thuê dich ̣ vu ̣ có nghiã vu ̣ tiế p nhâ ̣n kế t quả công viê ̣c , trả tiền dịch vụ… Theo quan điểm của học viên hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể (Bên thuê dịch vụ và bên cung ứng dịch vụ) về việc xác lập, thay đổi, chấm 7 z dứt nghĩa vụ dân sự.
Với hành vi pháp luật tương ứng cho mỗi bên đó là, bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc theo yêu cầu của bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ trả cho bên cùng ứng một khoản thù lao nhất định; cả hai hành vi đó được tiến hành theo sự thỏa thuận và thống nhất cao về mặt ý chí của các bên. Hợp đồng dịch vụ ghi nhâ ̣n pha ̣m vi quyề n , nghĩa vụ của các bên chủ thể , công viê ̣c phải thực hiê ̣n , mang tính song vu ̣ và có tính chấ t đề n bù. BLDS năm 2005 cũng đinh ̣ nghiã : “Hợp đồ ng di ̣ch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên , theo đó bên cung ứng di ̣ch vụ thực hiê ̣n công viê ̣c cho bên thuê di ̣ch vụ , còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịc h vụ cho bên cung ứng di ̣ch vụ ” [32, Điề u 518]. Hợp đồng dịch vụ đã tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch dân sự về hoạt động dịch vụ được tiến hành một cách dễ dàng, và thúc đẩy được giao lưu dân sự trong xã hội, làm cho đời sống xã hội Việt Nam ngày càng được nâng cao.
Dự thảo BLDS (sửa đổi) trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa 13 sắp tới. Trong đó, có những vấn đề cơ bản, có ảnh hưởng đến các chế định dân sự khác của BLDS về “Nghĩa vụ và hợp đồng” đã sửa đổi một số vấn đề về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ, biện pháp bảo đảm nghĩa vụ, một số hợp đồng thông dụng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, nội dung các điều khoản trong mục hợp đồng dịch vụ không sửa đổi. Chỉ thay thứ tự chương, mục và điều (từ Chương XVIII, Mục 7, Điều 453 đến Điều 596 thay sang Chương XVI, Mục 8, Điều 537 đến 545).