CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT MUA BÁN DOANH NGHIỆP. Khái niệm về mua bán doanh nghiệp. Luật doanh nghiệp năm 2014 không có khái niệm rõ ràng về MBDN mà chỉ là hoạt động hợp nhất và sáp nhập quy định tại điều 194 và 195, tuy nhiên hoạt động mua bán doanh nghiệp trong thực tế diễn ra rất sôi động và phức tạp trên thế giới cũng như ở Việt Nam trong những năm gần đây. Không có định nghĩa rõ ràng về mua bán doanh nghiệp nhưng việc mua bán doanh nghiệp được quy định rãi rác ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Luật cạnh tranh, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật sở hữu trí tuệ, Luật đất đai, Luật thuế, Luật lao động…và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Ví dụ, Luật cạnh tranh thì quy định:” mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”.1 Như vậy với cách tiếp cận ấy, có thể hiểu khái niệm MBDN là thông qua nhiều hình thức khác nhau như: mua bán tài sản, chuyển nhượng cổ phần, chuyển nhượng phần vốn góp, góp vốn trực tiếp, chia – tách doanh nghiệp, hợp nhất, mua nợ….dẫn đến kiểm soát , chi phối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác để đạt được mục đích là mua bán. Các đặc trưng cơ bản của mua bán doanh nghiệp. Bên mua phải kiểm soát được hoạt động kinh doanh của bên bán. Mục tiêu của MBDN là thông qua nhiều hình thức để kiểm soát được doanh nghiệp mua lại, có thể bằng cách chuyển nhượng cổ phần, chuyển nhượng phần góp vốn, mua tài sản doanh nghiệp…bên mua tham gia quản lý điều hành doanh nghiệp, định ra quyết sách hoạt động hằng ngày hoặc trong tương lai của doanh nghiệp.
Nói tóm lại, bên mua nắm được số vốn cao, cổ phần biểu quyết cao hay có quyền quyết định cao hơn và bên có quyền quyết định trong doanh nghiệp phải là bên mua chứ không phải là doanh nghiệp mục tiêu bị mua lại. Việc đó khác hẳn với việc đầu tư tài chính, mua phần vốn góp hay chuyển nhượng cổ phần trong doanh nghiệp đơn thuần mà không dẫn đến kiểm soát doanh nghiệp. 1 Xem Khoản 03 điều 17 Luật cạnh tranh 2004. Hình thức của hợp đồng mua bán doanh nghiệp Hợp đồng mua bán doanh nghiệp là tên gọi chung dùng để chỉ đến các hình thức mua bán phổ biến trong doanh nghiệp như: chuyển nhượng cổ phần, chuyển nhượng phần vốn góp, mua bán tài sản …thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng.
Để kiểm soát về tài sản (có cả cổ phần chi phối) và kiểm soát hoạt động kinh doanh, tùy theo từng TVMB có thể chia thành hai nội dung chính: Một là, hợp đồng mua bán doanh nghiệp có nội dung về chuyển nhượng cổ phần, chuyển nhượng phần vốn góp, góp vốn trực tiếp, chia – tách doanh nghiệp, hợp nhất ….Loại hợp đồng này nghiên về kiểm soát tài sản doanh nghiệp, quy định loại cổ phần, tài sản doanh nghiệp bao gồm những gì? cách thức chuyển quyền sở hữu ra sao? giá cả mua bán bao nhiêu? nghĩa vụ tài chính các bên? bất động sản hiện có của doanh nghiệp? quyền và nghĩa vụ các bên tham gia giao dịch…. Hai là, hợp đồng kèm theo hoặc thỏa thuận nguyên tắc khác (có tính chất tiên quyết) cũng xuất phát từ TVMB nói trên, quy định sự chuyển giao quyền lực: thay đổi đại diện pháp luật, cử người tham gia Hội đồng quản trị/ hội đồng thành viên, quy định việc từ nhiệm hay miễn nhiệm của HĐQT/HĐTV, thời điểm thay đổi cổ đông trên các giấy tờ pháp lý liên quan … Nếu TVMB có nội dung liên quan đến cả hai loại hợp đồng nói trên, thì hiệu lực của từng loại hợp đồng có thể khác nhau nhưng đều có giá trị pháp lý như nhau và không tách rời nhau khi thực hiện thương vụ. Đối tượng mua bán doanh nghiệp là “ hàng hóa hỗn hợp đặc biệt” Khác với loại hình mua bán hàng hóa thông thường, hoạt động MBDN là tổng thể các mối liên hệ liên quan, trong đó bản chất là mua bán tài sản theo pháp luật dân sự có đăng ký quyền sở hữu (nếu luật quy định loại tài sản phải đăng ký như bất động sản…). Mặt khác, đó còn được mua bán các quyền vô hình khác như: sở hữu trí tuệ, thương hiệu, uy tín, độc quyền… Khi bán doanh nghiệp thì doanh nghiệp bên mua và bên bán phải là thực thể hiện hữu được pháp luật công nhận như: doanh nghiệp đang tồn tại có tư cách pháp lý độc lập, không hạn chế quyền mua bán liên quan và vận hành doanh nghiệp theo cơ chế thị trường.
7 Loại “ hàng hóa hỗn hợp đặc biệt” trong MBDN gồm nhiều loại hàng hóa khác nhau, có thể được thiết lập bằng nhiều dạng hợp đồng khác nhau theo quy định pháp luật, để đăng ký quyền sở hữu cho bên mua khi bên mua thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ mua tài sản của mình, khi đó bên mua có toàn quyền là chủ toàn bộ hoặc đồng sở hữu khối tài sản của doanh nghiệp và có trách nhiệm liên quan theo luật định. Hoạt động mua bán doanh nghiệp phải hợp pháp. Doanh nghiệp được kinh doanh những gì pháp luật không cấm cũng như pháp luật không cấm hoạt động MBDN, tuy nhiên khi doanh nghiệp tiến hành thương vụ mua bán thì pháp luật có quy định một số ngành nghề cấm mua bán, cũng như việc khống chế thị phần mua bán của doanh nghiệp ( ví dụ : pháp luật cạnh tranh và một số chuyên ngành đặc thù Nhà nước quy định khống chế thị phần hay sở hữu tỉ lệ là bao nhiêu?…). Cụ thể ở Việt Nam quy định dưới tỉ lệ cho phép thì doanh nghiệp được quyền tự do mua bán, nhưng khi vượt tỉ lệ theo quy định phải được phép cơ quan quản lý về cạnh tranh theo pháp luật cạnh tranh, nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo vệ nguyên tắc tập trung kinh tế… nhằm chống độc quyền trong ngành hàng nhất định, hay lạm dụng chiếm lĩnh thị trường dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh với doanh nghiệp cùng ngành và khống chế nguồn hàng cũng như dễ dàng ép được đối thủ đang cạnh tranh yếu hơn mình.
Bên cạnh đó, chủ thể MBDN ở một số trường hợp phải cùng ngành với nhau và phải là tổ chức, ví dụ như doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản thì mới được mua dự án của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản …Đặc biệt ở một số ngành nghề, luật còn quy định buộc doanh nghiệp phải mua bán lại vì mục đích an ninh quốc phòng, để ổn định trật tự xã hội hay kinh tế vĩ mô ….mà không chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh như lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm… 8 1. Ảnh hưởng của việc mua bán doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.Đối với doanh nghiệp được mua: Dễ dàng khai thác có hiệu quả đối với doanh nghiệp bị mua lại bằng nguồn tài chính, kỹ thuật, công nghiệp cao hơn…để áp dụng và triển khai cho doanh nghiệp mục tiêu. Không cần mất nhiều thời gian thành lập hay xây dựng mạng lưới kinh doanh mới vì đã có thị phần, như trường hợp của công ty Thế giới di động mua lại công ty điện máy Trần anh để phát triển thêm lĩnh vực điện máy của Thế giới di động cho khu vực phía Bắc mà không cần mở thêm chi chánh mà tận dụng thị phần đã có của công ty Trần anh… 1. Đối với doanh nghiệp bị mua: Giúp giảm bớt sự gánh nặng tài chính, thu về một khoản tiền mong muốn từ bên bị mua, hay chia sẽ và đồng hành cùng với doanh nghiệp đi mua phát triển lĩnh vực tốt hơn từ nguồn tài chính, công nghệ, nhân sự, quy mô…giúp các bên khai thác và phát huy được hiệu quả kinh doanh, hỗ trợ điểm chưa phù hợp của hai bên cùng phát triển thị trường…,ví dụ: công ty bất động sản A làm dự án khu dân cư không hiệu quả, nợ ngân hàng bằng 70% trên tổng giá trị quyền sử dụng đất hiện tại, công ty A đã thực hiện dự án được 70% không còn đủ tài chính để triển khai tiếp theo dự án đành bán dự án cho công ty Novaland, công ty Novaland mua lại 80% cổ phần công ty A ( Novaland trả nợ ngân hàng 70% cho công ty A), sau đó Novaland dùng 10% số tiền còn lại rót vốn vào công ty A và cùng với công ty A phát triển dự án để chia lợi nhuận/ rủi ro cùng với công ty A.
Như vậy công ty A không phải gánh nặng vốn và lãi trả ngân hàng mà còn được cùng đối tác là Novaland phát triển dự án tốt hơn. Đối với nền kinh tế: Thị trường mua bán doanh nghiệp phát triển đem lại cơ hội kinh doanh, lợi ích cho tính ổn định và kinh tế xã hội. Giúp cho các doanh nghiệp có điều kiện hỗ trợ, khai thác, hợp tác…cùng phát triển, tránh được vụ việc tạm ngưng hoạt động hay phá sản doanh nghiệp do kinh doanh không hiệu quả, nền kinh tế không phải mất cân đối nguồn thu ngân sách, lao động thất nghiệp, khoa học công nghệ được nâng cao… 9 1. Các hình thức mua bán doanh nghiệp phổ biến.
Mua bán toàn bộ doanh nghiệp. Mua bán toàn bộ doanh nghiệp là hình thức tổ chức/ cá nhân mua lại toàn bộ số cổ phần trong công ty cổ phần, số vốn góp đối với công ty TNHH hay mua quyền chủ sở hữu của doanh nghiệp tư nhân ( gọi chung là vốn ) của doanh nghiệp bị mua. Về phía bên mua có thể tổ chức hoặc cá nhân nhưng đối với bên bán phải là doanh nghiệp, hình thức mua bán “vốn” thường thể hiện qua hợp đồng chuyển nhượng cổ phần/ vốn góp giữa cổ đông hiện hữu và cổ đông mới, hợp đồng mua bán này là phần quan trọng quy định bởi các quyền và nghĩa vụ của hai bên, được nộp lên cơ quan có thẩm quyền để thay đổi thành viên hoặc tăng giảm thành viên (nếu có ), sau đó cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp với tên doanh nghiệp bên bán lúc đầu, nhưng với cổ đông/ thành viên mới là của bên mua doanh nghiệp, sau đó các cổ đông/ thành viên mới của công ty toàn quyền kiểm soát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định pháp luật. Mua bán một phần doanh nghiệp.
Mua bán một phần doanh nghiệp là hình thức của nhóm tổ chức/ cá nhân mới mua lại một phần số cổ phần/ phần vốn góp với tỉ lệ cao hơn của cổ đông hiện hữu của doanh nghiệp bị mua.