đặt vấn đề về lãi suất cho vay vượt quá quy định của Bộ luật dân sự. Rõ ràng khi cần tiền để thực hiện kế hoạch, mục tiêu của mình thì khách hàng mới đi vay. Cũng vì lý do này nên ban đầu thông thường thì khách hàng chấp nhận với lãi suất của tổ chức tín dụng đưa ra nhưng sau một thời gian sử dụng vốn 9 Nghị quyết số 42/2017/QH14, ngày 21/6/2017 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. 16 vay do không hiệu quả hoặc có trường hợp sử dụng vốn vay sai mục đích vay dẫn đến mất khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán vốn và lãi, lúc này phía khách hàng đặt ra vấn đề mức lãi suất cao.
Khi đặt ra vấn đề mức lãi suất cao thì khách hàng cho rằng mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận là trái với quy định của Bộ luật dân sự về vấn đề lãi suất. Có khách hàng thì đề nghị tổ chức tín dụng giãm mức lãi suất xuống bằng mức lãi suất theo quy định tại Điều 476 của Bộ luật dân sự 2005. Có khách hàng thì đề nghị Tòa án phải căn cứ vào Điều 476 của Bộ luật dân sự 2005 để xử lý về lãi suất./ ranh chấp về ch thể tham gia xác l p, thực hiện hợp đồng Tranh chấp này trên thực tế tương đối đa dạng và phức tạp, điều này gây nhiều khó khăn cho cơ quan xử lý tranh chấp. Trong quá trình ký kết hợp đồng tín dụng, việc xem xét tư cách chủ thể của bên vay là một vấn đề quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực của hợp đồng tín dụng.
Trên thực tế, nếu tổ chức tín dụng xem nhẹ vấn đề này, không xem xét kỷ để xác định đúng tư cách chủ thể có thẩm quyền ký kết rất dể dẫn đến việc ký hợp đồng tín dụng với chủ thể không có thẩm quyền ký kết. Vấn đề này khách hàng vay rất ít quan tâm. Bởi vì, khi hợp đồng tín dụng bị tuyên bố vô hiệu thì người bị thiệt hại là tổ chức tín dụng chứ không phải khách hàng vay. Việc hợp đồng tín dụng bị tuyên bố vô hiệu sẽ gây thiệt hại nặng nề cho các tổ chức tín dụng, nguy cơ việc thu hồi không được nợ của tổ chức tín dụng là rất cao.
Khi ký kết hợp đồng bên cho vay cũng thường ít kiểm tra tư cách của chủ thể tham gia ký kết, thấy người trực tiếp tham gia trao đổi, bàn bạc rồi tiến hành ký tên và sử dụng con dấu tổ chức, doanh nghiệp là an tâm rằng mình đã giao kết với người có thẩm quyền ký kết. Thực tiễn có nhiều trường hợp người có thẩm quyền ký kết lại không phải là người trực tiếp trao đổi, thỏa thuận bàn bạc. Hợp đồng được ký bởi người không có thẩm quyền và khi xảy ra tranh chấp, bên vi phạm thường lấy lý do người ký không đúng thẩm quyền để thoái thác trách nhiệm. Điều này đã gây nhiều phiền toái, cũng như thiệt hại cho tổ chức tín dụng, đặc biệt với những hợp đồng có giá trị lớn thì thiệt hại là không hề nhỏ.
Bên vi phạm không nhận chịu trách nhiệm mà cho rằng do người ký hợp đồng không có thẩm quyền nên không phải chịu. Nguyên nhân này chủ yếu là do lỗi của cán bộ tín dụng khi chuẩn bị cho hồ sơ ký kết hợp đồng. Do đó, khi ký kết hợp đồng tín dụng tổ chức tín dụng phải kiểm tra kỷ chủ thể tham gia xác lập phải có năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của chủ thể. Đối với pháp nhân phải 17 do người đại diện hợp pháp xác lập 10.
Đối với cá nhân thì chủ thể phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật 11. Đối với trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung thì vợ, chồng trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh là người đại diện hợp pháp thực hiện việc xác lập quan hệ ký kết hợp đồng tín dụng với tổ chức tín dụng 12. Ngoài ra về người đại diện cũng cần phải nắm vững trong trường hợp nào là đại diện theo pháp luật, trong trường hợp nào là đại diện theo ủy quyền. Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì người đại diện theo pháp luật của cá nhân là cha, mẹ đối với con chưa thành niên; người giám hộ đối với người được giám hộ 13.
Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bao gồm: Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ; người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật 14. Đối với người đại diện theo ủy quyền phải thực đúng quy định Điều 138 của Bộ luật dân sự 2015 về đại diện theo ủy quyền cũng như theo quy định tại Điều 562, 563 của Bộ luật dân sự 2015 về hợp đồng ủy quyền. Vấn đề về chủ thể ký kết hợp đồng bắt buộc cán bộ tín dụng phải tuân thủ đúng quy định. Phải nắm vững kiến thức pháp luật quy định về quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tập thể, người đại diện…Trường hợp nào là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất, trường hợp nào là tài sản thuộc sở hữu chung theo phần, trường hợp nào là sản riêng, trường hợp nào là tài sản của tổ chức không phải là pháp nhân và trường hợp nào là tài sản của pháp nhân.
Trong thực tiễn việc tranh chấp do chủ thể không có quyền xác lập, thực hiện hợp đồng tín dụng rất ít khi xảy ra. Khi chủ thể không có quyền ký kết nhưng lại tham gia ký kết hợp đồng thì sự thỏa thuận cam kết của chủ thể đó không có giá trị pháp lý, không có hiệu lực thi hành ngay từ thời điểm xác lập, hợp đồng ký kết trở thành vô hiệu. Hậu quả của hợp đồng vô hiệu là rất lớn, bởi vì nguy cơ việc thu 10 khoản 7 Điều 69 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 11 khoản 3 Điều 69 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 1 Điều 7 TT số 39/TT- NHNH ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước 12 Điều 25 của Luật Hôn nhân gia đình 2014 13 Điều 136 của Bộ luật dân sự 2015 14 Điều 137 của Bộ luật dân sự 2015; điểm d khoản 2 Điều 56, khoản 1 Điều 67, khoản 1 Điều 86, điểm d khoản 2 Điều 135, điểm h khoản 2 Điều 149, khoản 1 Điều 162 của Luật Doanh nghiệp 2014 18 hồi không được nợ của tổ chức tín dụng là rất cao. Do đó nếu có xảy ra thì ở những phụ lục hợp đồng hoặc do lỗi của bên vay./ ranh chấp về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Bảo đảm tiền vay là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay.
Chính bởi bản chất hợp đồng tín dụng mang tính rủi ro cao nên các tổ chức tín dụng coi bảo đảm tín dụng là nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất (các lưu chuyển tiền tệ) không thể thực hiện được nợ. Trong hoạt động kinh doanh có rất nhiều lý do dẫn đến nguồn thu nợ thứ nhất không thực hiện được, nếu không có nguồn bổ sung chắc chắn rằng các tổ chức tín dụng sẽ rơi vào tình trạng rủi ro tín dụng rất cao, thậm chí dẫn đến phá sản. Bảo đảm tiền vay là việc các bên thỏa thuận áp dụng các phương pháp, biện pháp, cách thức nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ hoàn trả vốn và lãi phát sinh của khách hàng cho ngân hàng theo hợp đồng tín dụng. Về bản chất, bảo đảm nghĩa vụ thanh toán tiền vay chỉ là một trong những biện pháp để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ đối với hợp đồng chính đó là hợp đồng vay tài sản do tổ chức tín dụng và khách hàng vay xác lập.
Biện pháp bảo đảm không phải là điều kiện bắt buộc, thực tế có những trường hợp tổ chức tín dụng cho khách hàng vay không thực hiện biện pháp bảo đảm tiền vay. Trường hợp này chỉ xảy ra đối với khách hàng là cá nhân, vay số tiền nhỏ, mục đích vay phục vụ nhu cầu tiêu d ng. D có các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ thanh toán hay không đều không ảnh hưởng đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng. Bên có nghĩa vụ vẫn phải nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ và nếu vi phạm phải chịu các biện pháp xử lý về tài sản theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có chín biện pháp: Cầm cố tài sản; Thế chấp tài sản; Đặt cọc; Ký cược; Ký quỹ; Bảo lưu quyền sở hữu; Bảo lãnh; Tín chấp; Cầm giữ tài sản 15. Thế nhưng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng thì tổ chức tín dụng thường sử dụng hai biện pháp bảo đảm đó là: Thế chấp tài sản; Bảo lãnh. h chấp tài sản: “ h chấp tài sản là việc m t bên (sau đ y gọi là bên th chấp) dùng tài sản thu c s hữu c a mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không 15 Điều 292 của Bộ luật dân sự 2015 19 giao tài sản cho bên kia (sau đ y gọi là bên nh n th chấp)” 16. Như vậy, thế chấp tài sản là người thế chấp d ng chính tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để thế chấp nhằm để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của mình.
Trong hợp đồng tín dụng, để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình khách hàng vay thường là ký hợp đồng thế chấp tài sản với tổ chức tín dụng. Tài sản thế chấp này là tài sản thuộc quyền sở hữu của bên vay. Song trong thực tiễn, có những khách hàng vay nhưng họ không có tài sản để thế chấp, để được vay họ phải nhờ đến người thứ ba với tư cách bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ.