Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ TỘC NGƯỜI NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả xác định cần làm rõ những khái niệm cơ bản liên quan đến hôn nhân gồm: hôn nhân, ngoại hôn dòng họ, hôn nhân hỗn hợp, nghi lễ, truyền thống, biến đổi. Khái niệm Hôn nhân có nhiều cách định nghĩa khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt, hôn nhân được định nghĩa là việc kết hôn giữa nam và nữ… [33, tr.
Còn trong Từ điển Nhân học thì “Hôn nhân là mối quan hệ gắn bó được thừa nhận về mặt xã hội giữa một người đàn ông và một người đàn bà nhằm mục đích duy trì nòi giống một cách hợp pháp lập gia đình hạt nhân mới hoặc nhằm tạo ra hộ gia đình mới” [35, tr. Trong cuốn “Nhân học - Một quan điểm về tình trạng nhân sinh” của hai tác giả Emily A. Schulzt và Robert H. Lavenda, khái niệm hôn nhân được giải thích: “Hôn nhân là một quá trình xã hội mà mô hình mẫu của nó là sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà, là một sự kiện làm biến đổi những thành viên của nó, làm thay đổi quan hệ giữa những người thân thuộc của mỗi bên và những khuôn mẫu xã hội thông qua việc sinh đẻ cùng với một số quyền lợi và nghĩa vụ đi kèm” [10, tr.
Theo hai tác giả này thì, hôn nhân cũng tạo nên tính hợp pháp của con cái do người vợ sinh ra và thiết lập các mối quan hệ giữa họ hàng bên vợ và họ hàng bên chồng [10]. Luật Hôn nhân và Gia đình ban hành ngày 19 tháng 6 năm 2014 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam định nghĩa: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” [20]. Đồng thời tại điều 3, mục 4,5 Luật này cũng nêu rõ: “Tập quán về hôn nhân và gia đình là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được lặp đi lặp lại trong một thời kì dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộng đồng… Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật 14 này về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn”. Nội hàm hôn nhân bao gồm nhiều yếu tố/khía cạnh như quan niệm, nguyên tắc, tính chất và hình thức hôn nhân, cư trú sau hôn nhân.
vì vậy trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả cũng phải nghiên cứu một số khái niệm khác có liên quan đến hôn nhân nhằm thể hiện được đặc trưng và bản sắc văn hóa tộc người H’mông nói chung và người H’mông Đen ở xã Tà Xùa nói riêng. Nội hôn tộc người: là việc chỉ kết hôn với người trong cùng một dân tộc, hoặc cùng một nhóm tộc người với mình. Đây là tập quán/xu thế phổ biến của nhiều tộc người thiểu số trong việc kết hôn trước kia. Ngoại hôn dòng họ: là khái niệm chỉ được kết hôn với những người ngoài dòng họ của mình và được quy định bởi tập quán pháp của tộc người.
Ở người H’mông cũng vậy, thông thường, việc kết hôn giữa những người cùng dòng họ bất kể ở xa hay gần đều bị nghiêm cấm. Hôn nhân hỗn hợp dân tộc: Khái niệm này dùng để chỉ việc kết hôn giữa hai người không cùng một tộc người/dân tộc với nhau mà không trái với quy định của pháp luật. Hôn nhân hỗn hợp là một hiện tượng phổ biến diễn ra trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Bởi vì quá trình tiếp xúc giao lưu văn hoá không chỉ bó hẹp trong phạm vi một cộng đồng tộc người mà xu hướng sẽ phát triển ra bên ngoài.
Không những thuộc phạm vi quốc gia mà còn giữa quốc gia này với quốc gia khác trong xu thế toàn cầu hoá như ngày nay. Nghi lễ hôn nhân: được hiểu là những nghi lễ phải thực hành và tuân theo trong hôn nhân theo quy định của phong tục, tập quán của mỗi tộc người. Để hợp thức hóa về hôn nhân, đôi trai gái và gia đình hai bên bắt buộc phải thực hiện một số nghi lễ theo tập quán tộc người quy định. Nghi lễ hôn nhân được thực hiện nhằm đảm bảo sự chứng kiến và công nhận của cộng đồng về việc kết hôn của đôi trai gái, đồng thời bên trong các nghi lễ đều chứa đựng yếu tố tâm linh, liên quan đến đời sống tín ngưỡng của mỗi tộc người.
Truyền thống: theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, truyền thống là thói quen được hình thành đã lâu trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ 15 này qua thế hệ khác [33, tr. Biến đổi là khái niệm chỉ sự thay đổi thành khác trước hoặc sự thay đổi, điều thay đổi khác với trước [33, tr. Văn hóa nói chung và hôn nhân nói riêng luôn luôn có sự vận động và biến đổi dưới tác động của các yếu tố kinh tế - văn hóa để phù hợp với yêu cầu thực tiễn đặt ra. Các lý thuyết tiếp cận Luận văn vận dụng lý luận và phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử gồm: (i).
Đảm bảo tính khách quan, có nghĩa là nghiên cứu sự vật hiện tượng như chúng đang tồn tại thực tế, các kết luận phải xuất phát từ thực tế, không phán đoán chủ quan; để có hiểu biết đúng đắn về sự vật, hiện tượng phải hướng tới cái bản chất, không hướng tới cái ngẫu nhiên, không ổn định; (ii). Nghiên cứu sự vật hiện tượng trong sự phát triển. Theo đó, mỗi sự vật, hiện tượng đều có quá trình nảy sinh, vận động (biến đổi) và phát triển; đều tồn tại trong một không gian và thời gian xác định. Khi nghiên cứu, cần nhìn nhận sự vật, hiện tượng trong những giai đoạn cụ thể và trong toàn bộ tiến trình phát triển; cần chú ý đến hoàn cảnh lịch sử cụ thể làm nảy sinh vấn đề đó, tới bối cảnh hiện thực khách quan và chủ quan.
Có như vậy sẽ giúp ta thấy được sự vận động, biến đổi cũng như lý giải được quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng đó và (iii). Nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong một chỉnh thể toàn vẹn, nghĩa là khi xem xét sự vật, hiện tượng cần phải đặt trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật, hiện tượng đó. Đồng thời, phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ qua lại với các sự vật, hiện tượng khác. - Lý thuyết bản sắc văn hóa tộc người Việc áp dụng lý thuyết bản sắc văn hóa tộc người giúp tác giả luận văn nhận diện được rõ những sắc thái riêng trong hôn nhân của nhóm H’mông Đen ở xã Tà Xùa.
Lý thuyết này chỉ rõ rằng: Bản sắc tộc người là tổng thể những yếu tố vật chất và tinh thần mang tính đặc trưng và đặc thù của một tộc người, giúp phân biệt tộc người này và tộc người khác, và giữa các nhóm khác nhau của cùng một tộc người. Bản sắc tộc người được hình thành lâu dài trong lịch sử, gắn liền với hoàn cảnh 16 kinh tế, xã hội và môi trường tự nhiên của tộc người, được bảo lưu lâu dài. - Lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa Lý thuyết này chỉ ra rằng: sự tiếp xúc trực tiếp và lâu dài giữa hai nền văn hóa khác nhau và hậu quả của sự tiếp xúc đó là sự thay đổi hay biến đổi của một số loại hình văn hóa ở cả hai nền văn hóa. Theo đó, giao lưu tiếp biến văn hóa là quá trình trong đó một nền văn hóa thích nghi, ảnh hưởng bởi một nền văn hóa khác bằng cách vay mượn nhiều nét đặc trưng.
Đó là sự trao đổi những đặc tính văn hóa nảy sinh khi các cộng đồng tiếp xúc trực diện và liên tục. Tiếp biến văn hóa còn được hiểu là quá trình biến đổi văn hóa diễn ra do sự tiếp xúc của hai hệ thống văn hóa riêng rẽ mà kết quả làm cho chúng ngày càng trở nên giống nhau hơn. Lý thuyết về giao lưu, tiếp biến văn hóa cho thấy biến đổi là quá trình tất yếu của mọi sự vật và hiện tượng, trong đó bao gồm cả văn hóa tộc người nói chung và hôn nhân nói riêng. Ngày nay, dưới sự tác động của quá trình phát triển, toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ thì sự giao lưu, biến đổi văn hóa của các tộc người, trong đó có hôn nhân của nhóm H’mông Đen là không tránh khỏi.
Do đó, khi nghiên cứu văn hóa tộc người, trong đó có các quan niệm, nguyên tắc, đặc điểm và các nghi lễ trong hôn nhân của nhóm H’mông Đen nơi đây, tác giả luận văn không thể chỉ xem xét vấn đề này một cách biệt lập hay trong trạng thái tĩnh, mà luôn đặt chúng trong trạng thái động, trong quá trình biến đổi, tiếp biến. Khái quát về địa bàn và tộc người nghiên cứu 1. Đôi nét về địa bàn nghiên cứu - Huyện Bắc Yên: Bắc Yên là một huyện vùng cao nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Sơn La, cách Thành phố Sơn La 100 km về phía Đông Bắc, tọa độ địa lý điểm trung tâm là 21013’23” độ vĩ bắc và 104022’09” độ kinh đông, có độ cao trung bình từ 1.400m so với mặt nước biển, diện tích tự nhiên là 1.103,71 km2, phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái và huyện Mường La tỉnh Sơn La; phía Đông giáp huyện Phù Yên; phía Nam và Đông Nam giáp huyện Mộc Châu và Yên Châu; phía Tây và Tây Nam giáp huyện Mai Sơn [38]. 17 Trước khi thành lập huyện (1964), phần lớn đất đai và cư dân Bắc Yên thuộc huyện Phù Yên và một số xã thuộc huyện Yên Châu (tỉnh Sơn La) [2, tr.
Ngày 27/12/1975, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (khóa V), kì họp thứ hai quyết định bỏ cấp khu (khu tự trị) trong hệ thống đơn vị hành chính, hợp nhất tỉnh Yên Bái, Lào Cai và Nghĩa Lộ thành tỉnh Hoàng Liên Sơn, chuyển huyện Bắc Yên, Phù Yên (thuộc tỉnh Nghĩa Lộ cũ) về tỉnh Sơn La [2, tr. Đến ngày 16/1/1979, theo Quyết định số 18-CP của Hội đồng Chính phủ, xã Phiêng Ban của huyện Bắc Yên chia thành 2 xã: xã Hồng Ngài và xã Phiêng Ban. Ngày 13/3/1979, theo Quyết định số 105-CP của Hội đồng Chính phủ, chuyển tăng cường các xã Mường Khoa, Tạ Khoa, Mường Sại, Phiêng Côn của huyện Yên Châu về huyện Bắc Yên. Ngày 7/9/1999, thành lập thị trấn huyện Bắc Yên [2, tr.