MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chăn nuôi lợn đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam nói chung và của các tỉnh phía bắc nói riêng. Trong những năm qua thịt lợn đã trở thành hàng hoá tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, góp phần tăng thu nhập cho nông dân. Trong chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020, ngành chăn nuôi sẽ được tổ chức lại theo hướng gắn với thị trường; Chăn nuôi sẽ cơ bản chuyển sang hướng sản xuất hàng hóa, theo phương thức chăn nuôi tập trung công nghiệp, nhằm đảm bảo an toàn dịch bệnh, vệ sinh thú y và vệ sinh an toàn thực phẩm; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả chăn nuôi và cải thiện điều kiện an sinh xã hội.
Để đạt được mục tiêu đó, việc nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái, đăc biệt là đàn lợn nái ngoại luôn là mối quan tâm, là mục tiêu hàng đầu của các nhà chăn nuôi và các nhà khoa học. Trong những năm gần đây, cùng với những thiệt hại do các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây ra cho đàn lợn như: dịch tả, lở mồm long móng, tai xanh… các bệnh về sinh sản cũng không ngừng gia tăng, ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất sinh sản của lợn nái. Theo các nhà chăn nuôi, một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái ở nước ta hiện nay là hội chứng viêm tử cung (metritis), viêm vú (mastitis), mất sữa (agalactia) viết tắt là MMA. Thuật ngữ MMA được dùng nhiều ở các nước châu Âu (Martin et al., 1967; Waldmann, 2001), đặc trưng bởi việc giảm tiết sữa 12 - 48 giờ sau đẻ, viêm tử cung, viêm vú ở lợn mẹ, còi cọc, dễ nhiễm bệnh và chết đói ở lợn con.
Ngày nay, hội chứng MMA còn được gọi là hội chứng rối loạn tiết sữa sau đẻ (Post - Partum Dysgalactia Syndrome - PPDS/PDS), hoặc hội chứng giảm sữa sau đẻ (Post - patrum Hypogalactia Syndrome - PHS). Lợn nái có tỉ lệ mắc bệnh cao, tỉ lệ chết khoảng 2% nhưng lợn con có thể chết đến 80%, gây tổn thất lớn về kinh tế (Shrestha, 2012). Trong nghiên cứu đánh giá thiệt hại do ảnh hưởng của hội chứng MMA tại 1 Cộng Hòa Liên Bang Đức cho thấy: hội chứng này gây tổn thất kinh tế cho chăn nuôi khoảng 15. Hội chứng MMA không những ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, khả năng sinh sản, sức sản xuất của lợn nái mà còn ảnh hưởng đến chất lượng lợn con.
Trên thế giới, mặc dù hội chứng MMA đã được biết đến từ lâu nhưng chỉ từ khi có một số công bố về tỷ lệ mắc hội chứng MMA từ 30 đến 35% ở một số đàn lợn nái sinh sản thì mới có nhiều nghiên cứu chi tiết về tổn thương vú (Jensen et al., 2006), về mối tương quan giữa viêm nhiễm đường sinh dục với hội chứng MMA (Busse, 2006; Hulten et al., 2006), về xác định các yếu tố nguy cơ mắc hội chứng (Perestrelo et al., 1994) và thử nghiệm điều trị (Gevaert et al., 2006; Heber et al. Cùng với những đặc điểm lợn nái kém ăn, mệt mỏi, sốt, sưng vú, viêm tử cung sau đẻ từ 12 đến 48 giờ, hội chứng MMA còn làm giảm tiết sữa và đặc biệt làm thay đổi thành phần của sữa qua đó làm tăng tỷ lệ chết ở lợn sơ sinh tới 80% (Shrestha, 2012). Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu về hội chứng MMA nhưng chủ yếu các nghiên cứu mới đánh giá tỷ lệ mắc, phân lập vi khuẩn gây bệnh, thử nghiệm phác đồ điều trị (Lê Minh Chí và Nguyễn Như Pho, 1985; Trịnh Đình Thâu và cs. Tuy nhiên, việc xác định sự thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu, xác định sự biến động hàm lượng vi khuẩn và thành phần hóa học, tính chất của sữa lợn mắc hội chứng MMA thì chưa được nghiên cứu một cách hệ thống.
Chính vì thế, việc tiếp cận nghiên cứu tổng thể từ nguyên nhân, biểu hiện lâm sàng, phi lâm sàng, các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc và đánh giá hiệu quả của một số giải pháp phòng, trị hội chứng MMA là yêu cầu cấp thiết trong thực tế sản xuất hiện nay. Để hạn chế tác hại của hội chứng MMA, góp phần nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái và góp thêm tư liệu khoa học cho việc hoàn thiện chương trình phòng chống, hạn chế dịch bệnh trên đàn lợn ở khu vực và trên toàn quốc, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm biện pháp phòng, trị hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa (MMA) ở lợn nái sinh sản” 2 2. Mục tiêu của đề tài Xác định đặc điểm bệnh lý lâm sàng, phi lâm sàng, đặc điểm dịch tễ và tỷ lệ lưu hành hội chứng MMA trên đàn lợn nái ngoại nuôi tập trung tại các trang trại ở các tỉnh, thành phố thuộc đồng bằng sông Hồng gồm: Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên và thành phố Hà Nội, từ đó đưa ra các giải pháp phòng, trị hội chứng MMA có hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất sinh sản và phát triển chăn nuôi lợn bền vững. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài Ý nghĩa khoa học: là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về hội chứng MMA trên đàn lợn nái ngoại sinh sản nuôi tại một số trang trại của các tỉnh, thành phố thuộc đồng bằng sông Hồng.
Ý nghĩa thực tiễn: đưa ra các giải pháp phòng, trị hội chứng MMA có hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất sinh sản và phát triển chăn nuôi bền vững. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện trên một số trang trại chăn nuôi lợn nái ngoại tại các tỉnh: Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên và thành phố Hà Nội và đàn lợn con được sinh ra từ những lợn nái nghiên cứu. Những đóng góp mới của đề tài Nghiên cứu một cách hệ thống về hội chứng MMA, từ biểu hiện triệu chứng lâm sàng đến các chỉ tiêu phi lâm sàng, chất lượng sữa, thành phần vi khuẩn trong sữa, trong dịch tử cung của lợn nái, làm kháng sinh đồ và đề xuất các giải pháp phòng, trị hội chứng MMA. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Khái quát hội chứng viêm tử cung (Metritis), viêm vú (Mastitis), mất sữa (Agalactia) - MMA Hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa được gọi bằng nhiều tên khác nhau trên thế giới: theo Martin et al. (1967) hội chứng MMA là tên thường được dùng ở các nước châu Âu; hội chứng rối loạn tiết sữa sau đẻ (postpartum dysgalactia syndrome - PPDS/PDS) được dùng ở các nước nói tiếng Anh (Klopfenstein et al., 2006), ngoài ra còn một số tên gọi khác như: hội chứng mất sữa (Peny, 1970); hội chứng mất sữa sau đẻ (Hermannson et al., 1978)… Tuy nhiên, dù ở tên gọi nào cũng phản ánh căn nguyên gây nên những bệnh lý của hội chứng và được biểu hiện bằng các triệu chứng đặc trưng: kém ăn hoặc bỏ ăn, lười uống nước, bồn chồn, sốt > 39,50C, sưng tuyến vú, viêm tử cung, tiết nhiều dịch viêm và giảm tiết sữa từ 12 đến 48 giờ sau đẻ, lợn con chết đói tỷ lệ cao (Hoy, 2004; Shrestha, 2012). Hội chứng do vi khuẩn gây ra và là nguyên nhân làm tăng tỷ lệ chết, kém tăng trọng ở lợn con (BPEX, 2011) và gây tổn thất kinh tế trong chăn nuôi lợn sinh sản trên thế giới (Bertschinger, 1999). Theo Heber et al.
(2010), bệnh ở lợn nái sau đẻ được gọi là hội chứng MMA khi xuất hiện một trong những triệu chứng hoặc bao gồm các triệu chứng sau: viêm tử cung, viêm vú, pH âm đạo > 8,0, bỏ ăn hoặc ăn ít và thân nhiệt > 39,40C, tỷ lệ lợn nái mắc bệnh trong đàn lên tới 35 - 40%. Theo Đặng Đắc Thiệu (1978); Lê Minh Chí và Nguyễn Như Pho (1985); Berstchinger and Pohlenz (1980); Ross (1981); Smith (1985); Mercy (1990); Radostits and Blood (1997), những biểu hiện lâm sàng ở lợn nái sau sinh 12 - 72 giờ bao gồm hiện tượng sốt (Persson et al., 1989), tử cung tiết nhiều dịch viêm (viêm tử cung); vú sưng cứng, nóng và đỏ (viêm vú); sữa giảm hay mất sữa, được gọi là hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa (Gardner et al. Trên từng cá thể, có thể bệnh xuất hiện với từng triệu chứng riêng biệt hoặc kết hợp 2 - 3 triệu chứng cùng lúc, trong đó chứng viêm tử cung thường xuất hiện với tần xuất 4 cao hơn (Lê Minh Chí và Nguyễn Như Pho, 1985). Theo Taylor (1995), hội chứng MMA phải là sự kết hợp cả 3 chứng viêm tử cung, viêm vú và mất sữa trên cùng một cá thể lợn nái.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ hội chứng MMA theo quan điểm của các tác giả Đặng Đắc Thiệu (1978); Lê Minh Chí và Nguyễn Như Pho (1985); Berstchinger and Pohlenz (1980) để diễn tả những cá thể bị viêm tử cung kèm mất sữa hoặc viêm tử cung kèm viêm vú được xem là mắc hội chứng MMA. Trường hợp viêm tử cung, viêm vú, mất sữa cùng xuất hiện trên một cá thể được gọi là thể điển hình của hội chứng MMA. Viêm tử cung (Metritis) Đặc điểm: Là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau khi đẻ, quá trình viêm phá hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng của thành tử cung gây rối loạn sinh sản, từ đó gây ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh sản, thậm chí làm cho gia súc cái mất khả năng sinh sản. Nguyên nhân: Theo Sobko and Gadenko (1978), nguyên nhân của bệnh viêm tử cung là do tử cung bị tổn thương, do sót nhau khi đẻ.
Bệnh phát triển do nuôi dưỡng không đủ chất, do đưa vào đường sinh dục những chất kích thích đẻ, chúng phá hủy hoặc làm kết tủa chất nhày ở bộ máy sinh dục lợn. Theo Đào Trọng Đạt và cs. (2000), bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau: - Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây sát niêm mạc tử cung; dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm. - Khi phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những lợn nái khác bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khỏe.
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, theo đó vi khuẩn xâm nhập gây viêm tử cung kế phát. - Lợn nái sau đẻ bị sót nhau xử lý không triệt để dẫn đến viêm tử cung.