CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về chi Podophyllum 1. Vị trí phân loại của chi Podophyllum Theo khung phân loại ngành Ngọc lan, chi Podophyllum thuộc [3]: Giới thực vật: Plantae Ngành Ngọc lan: Magnoliophyta Lớp Ngọc lan: Magnoliosida Bộ Hoàng liên: Ranunculales Họ Hoàng liên gai: Berberidaceae Chi: Podophyllum Tuy nhiên: Theo Shaw, chi Dysosma được xếp vào chi Podophyllum. Nên theo nhiều tài liệu, một số loài thuộc chi Dysosma cũng được sắp xếp thuộc chi Podophyllum [1].
Đặc điểm thực vật của chi Podophyllum Cây thảo, sống lâu năm. Thân rễ bò, có nhiều mấu, nhiều rễ con dạng sợi. Thân cây (phần trên mặt đất) mọc thẳng, có lá bắc lớn bao quanh gốc. Lá hình khiên, chia 3-9 thùy.
Hoa mọc thành cụm hoặc thành chùm tán. Lá đài 6, chia vách. Tràng hoa 6, màu đỏ tía. Bao phấn dài, hướng trong, tự khai.
Nhụy hoa đơn độc; bầu 1 ô; nhiều lá noãn; đầu nhụy hình cầu. Quả mọng màu đỏ hoặc đỏ tía. Hạt nhiều, phần thịt quả ít [1]. Chi Podophyllum có 32 loài [4], trong đó có khoảng 10 loài được tìm thấy ở Trung Quốc và Việt Nam, trong đó có 7 loài phổ biến ở Trung Quốc (được phân vào chi Dysosma) và 3 loài (được phân vào chi Podophyllum) [1].
Bảy loài phổ biến bao gồm: Podophyllum majoense Gagnepain (Dysosma majoensis) Podophyllum versipelle Hance (Dysosma versipellis) Podophyllum difforme Hemsley & E. Wilson (Dysosma difformis) Podophyllum aurantiocaule Handel-Mazzetti (Dysosma aurantiocaulis) Podophyllum pleianthum Hance (Dysosma pleiantha) Podophyllum aurantiocaule Shaw (Dysosma tsayuensis) Podophyllum delavayi Franchet (Dysosma delavayi) Ba loài hiếm gặp bao gồm: 3 Podophyllum glaucescens J. Shaw Podophyllum hemsleyi J. Shaw & Stearn Podophyllum trilobulum J.
Shaw Và một loài Dysosma villosa mới được phát hiện năm 2019 tại Tây Nam, Trung Quốc [5]. Thành phần hóa học của chi Podophyllum Thành phần hóa học của chi Dysosma nói riêng và chi Podophyllum nói chung có thể chia thành 2 nhóm là: lignan và flavonoid. Tác dụng chữa bệnh chủ yếu do podophyllin quy định và có thể thu được podophyllin bằng cách chiết dược liệu với ethanol. Thành phần này chủ yếu là các lignan-C18 trong đó podophyllotoxin chiếm hàm lượng lớn, bên cạnh đó cũng thu được các lignan khác như demethylpodophyllotoxin, deoxypodophyllotoxin và podophyllotoxon.
Một số flavonoid cũng đã được phân lập từ nhựa bao gồm astragalin, isorhamnetin, kaempferol và quercetin. Những thành phần không tạo thành nhựa là: albumen, calci oxalat, acid gallic, tinh bột, chất béo và chất dễ bay hơi [6]. Các nghiên cứu gần đây cho thấy từ thân rễ của D. pleianthum đã phân lập được 10 lignan, bao gồm: picropodophyllin, podophyllotoxin, 4'- demethylpodophyllotoxin, diphyllin, dehydropodophyllotoxin, podophyllotoxon, picllropodophyllon, ismethylpodophyllophyllon desosoneoxjolophyll và hai anthraquinon: physcion và dysoanthraquinon [7].
Từ thân rễ loài D. versipellis đã xác định được cấu trúc của 15 hợp chất là: β-sitosterol, 4'-demethylpodophyllotoxin, kaempferol, picropodophyllotoxin-4-O-glucosid, cleistanthin-B, kaempferol-3-O-β-D- glucopyranosid, 4'-demethylpodophyllotoxin-4-O-glucosid, quercetin-3-O-β-D- glucopyranosid, icropodophyllotoxin-4-O-β-D-glucopyranosyl-(1→6)-β-D- glucopyranosid, quercetin, daucosterol, podophyllotoxon, acid vanillic, 4'- demethyldeoxypodophyllotoxin và sucrose [8], [9], [10]. Ngoài ra từ thân rễ của loài P. sikkimensis còn phần lập được hợp chất sikkimotoxin - một lacton có công thức phân thử C23H26O8 [11].
4 Tên chất R1 R2 R3 R4 Podophyllotoxin OH H CH3 H 4'-Demethylpodophyllotoxin H OH H H Demethyldeoxypodophyllotoxin H H H H Deoxypodophyllotoxin H H CH3 H α-Peltatin H H H OH Tên chất R1 R2 Podophyllotoxon CH3 H 4'-Demethylpodophyllotoxon H H Hình 1. Các hợp chất lignan trong một số loài Podophyllum 1. Tác dụng sinh học và độc tính của chi Podophyllum 1. Tác dụng ức chế sự phát triển của một số dòng tế bào ung thư Ức chế sự phát triển của tế bào ung thư là một tác dụng dược lý chính của chi Podophyllum, trong đó hợp chất podophyllotoxin (PTOX) là một lignan aryl-tetralin được tìm thấy trong D.
versipellis đóng vai trò quan trọng. Từ PTOX người ta đã bán tổng hợp ra etoposid, etopopho và teniposid các hợp chất này được sử dụng trên lâm 5 sàng để điều trị một số bệnh ung thư như: ung thư phổi, ung thư bạch cầu, ung thư biểu mô phổi tế bào nhỏ và ung thư tinh hoàn [12], [13], [14]. Theo nghiên cứu của Pu và cộng sự dịch chiết từ loài D. versipellis có khả năng ức sự phát triển và xâm lấn của tế bào ung thư thực quản CP-C [15].
Ba hợp chất podophyllotoxin, 4'-demethylpodophyllotoxin và deoxypodophyllotoxin được phân lập từ thân rễ loài D. versipellis có tác dụng ức chế sự phát triển của các dòng tế bào ung thư tuyến tiền liệt với giá trị IC50 trong khoảng 0,030-0,056 và 0,032-0,082 µM [13]. Hai hợp chất podophyllotoxon và 4'-demethylpodophyllotoxin được phân lập từ thân rễ loài D. versipellis có tác dụng ức chế mạnh trên ba dòng tế bào PC3 (ung thư biểu mô tuyến tiền liệt), Bcap-37 (ung thư vú) và BGC-823 (ung thư biểu mô dạ dày) với các giá trị IC50 tương ứng là 17,8 ± 1,0 μM, 21,1 ± 1,8 μM, 19 ± 1,6 μM và 10,6 ± 1,5 μM, 13,2 ± 0,5 μM và 11,5 ± 0,6 μM [10].
Trên bào ung thư gan HepG2, 04 hợp chất là: 4'- demethylpodophyllotoxin, α-peltatin, podophyllotoxin và β-peltatin được phân lập từ D. versipellis đều có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư HepG2 với giá trị IC50 < 50 nM, trong đó β-peltatin thể hiện khả năng ức chế tốt nhất với giá trị IC50 là 5 nM [16]. Ngoài ra trong một nghiên cứu khác, kết hợp phân tử nano bạc với dịch chiết nước từ thân rễ loài D. pleiantha tạo thành hạt nano (AgNPs), sau đó khảo sát khả năng gây độc tế bào ung thư vú (MDA-MB-231 và MDA-MB-453) và tế bào ung thư dạ dày (AGS) của các hạt AgNPs.
Kết quả cho thấy, AgNPs có khả năng ức chế sự phát triển và phá hủy ADN trên hai dòng tế bào này với giá trị IC50 lần lượt là 33,521 và 36,25 µM. Ngoài ra, AgNPs cũng thể hiện khả năng gây độc đối với tế bào ung thư dạ dày của người với IC50 là 7,14 µM. Do đó, các AgNPs được tổng hợp từ thân rễ D. pleiantha có thể được sử dụng trong quá trình nghiên cứu phát triển các loại thuốc chống ung thư mới [17].
Tác dụng bảo vệ gan Quercetin và kaempferol được phân lập từ loài P. versipellis đã được chứng minh có tác dụng bảo vệ gan do độc tố podophyllotoxin gây ra. Thí nghiệm trên chuột cho thấy, nhóm sử dụng cả podophyllotoxin và flavonoid có tỷ lệ tử vong và tổn thương gan, thận thấp hơn đáng kể so với nhóm chỉ dùng podophyllotoxin. Các tác dụng biểu hiện trên 6 lâm sàng gồm giảm nồng độ transaminase huyết tương, phosphatase kiềm, lactat dehydrogenase, ure huyết tương, creatinin và tăng nồng độ glutathion [13], [18].
Tác dụng khác Podophyllotoxin, deoxypodophyllotoxin và β-peltatin được phân lập từ thân rễ các loài Podophyllum có hoạt tính chống lại virus sởi và virus Herpes simplex I với cơ chế có thể là phá vỡ các tế bào vi khuẩn gây cản trở sự nhân lên của virus [19]. Độc tính Các bộ phận như quả xanh, lá, thân, rễ và thân rễ của cây D. pleiantha đều có chứa lignan gây độc gọi là podophyllotoxin, trong đó thân rễ của cây được coi là một bộ phận có độc tính cao nhất vì có chứa hàm lượng podophyllotoxin cao. Biểu hiện ngộ độc D.
pleiantha là kích thích nhu động ruột, rối loạn hấp thu, buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy, chậm mọc móng, suy yếu thần kinh, tê bì chân tay. Liều gây tử vong trên người tính theo podophyllin ước tính là 350 mg [20]. Năm hoạt chất được tìm thấy trong thân rễ loài D. versipellis là podophyllotoxin-4- O-D-glucosid, podorhizol, podophyllotoxin, podophyllotoxon và 3′,4′-O,O- didemethylpodophyllotoxin đều gây ảnh hưởng đến chuyển hóa phenylalanin, chuyển hóa glycerolipid, chuyển hóa năng lượng, do đó gây ra hiện tượng stress, oxy hóa, quá trình chết tế bào, phản ứng viêm và tiêu hao năng lượng, cuối cùng dẫn đến tổn thương tế bào gan [21].
Trong thử nghiệm độc tính cấp của loài D. versipellis trên chuột cho thấy, tế bào cơ tim, tế bào gan, tế bào biểu mô ống thận bị phù nề, cấu trúc của màng tế bào và màng nhân tế bào thần kinh bị phá hủy [22]. Công dụng và một số bài thuốc trong YHCT của chi Podophyllum 1. pleiantha là một trong những loại thuốc cổ truyền lâu đời nhất của Trung Quốc.
pleiantha đem cắt thành lát hoặc đập dập được ngâm với nước hoặc rượu để làm thuốc ở Đài Loan và Trung Quốc để điều trị rắn cắn, suy nhược, u bã đậu, bệnh nổi hạch, khối u, áp xe với liều lượng 3-60 g cao khô D. pleiantha còn được sử dụng như một loại thuốc long đờm, thuốc giảm đau, chống co thắt, tác dụng an thần [14]. versipellis có tác dụng tiêu đờm, giải độc, tiêu huyết ứ, tán kết, chủ yếu được dùng để điều trị ho, đau họng, đau bìu, nọc độc sưng tấy, rắn cắn, chấn thương do va đập và đau khớp, thấp khớp [21] và thường dùng trị mụn nhọt lở ngứa, tràng nhạc, sưng yết hầu [3]. Một số bài thuốc trong YHCT Loài D.
versipellis được ứng dụng trong một số bài thuốc để điều trị ung thư vú, nhọt độc sưng tấy, tràng nhạc, rắn cắn. Cụ thể: Bài thuốc chữa u vú, nhọt độc sưng tấy: Thân rễ bát giác liên 15 g, Hoàng đỗ quyên 15 g, Tử bối thiên quỳ 30 g ngâm với 500 ml rượu trắng sau 7 ngày, mỗi lần uống 10- 15 ml, ngày 2-3 lần, kết hợp dùng ngoài xoa hoặc lá Bát giác liên giã nhỏ hơ nóng đắp vào nơi đau [3], [23]. Bài thuốc chữa tràng nhạc: Thân rễ bát giác liên nghiền thành bột, chế với dấm, đắp vào hạch sưng đau hoặc dùng thân rễ 30 g sắc uống, bã đắp tại chỗ [23]. Bài thuốc chữa rắn cắn: Thân rễ Cước diệp 6-12 g giã vắt lấy nước cốt uống, còn bã đắp vào nơi vết rắn cắn [3], [23].
Tổng quan về loài Podophyllum difforme 1. Vị trí phân loại của loài P. difforme Bát giác liên còn có tên gọi khác trong Tiếng Việt là: Pha mỏ (Tày), Độc cước liên, Quỷ cửu. Tên khoa học là: Podophyllum difforme Hemsl.
Wilson; tên đồng nghĩa là Dysosma difformis (Hemsley & E. Ying, Dysosma tonkinensis (Gagnepain) Hiroe, Podophyllum tonkinense Gagnepain; Podophyllum triangulum Handel-Mazzetti) thuộc chi Podophyllum, họ Hoàng liên gai (Berberidaceae), bộ Hoàng liên (Ranunculales), lớp Ngọc lan (Magnoliosida), ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) [1], [3]. Đặc điểm thực vật của loài P. difforme Cây thảo, sống lâu năm, chiều cao từ 15 cm đến 30 cm.
Thân rễ hình trụ, cứng, chia nhiều đốt, có nhiều rễ nhỏ hình sợi, nhiều xơ. Phần trên mặt đất thẳng, một thân có một lá, có màu đỏ tía hoặc màu xanh lục, thân nhẵn, đường kính 0,5-1 cm. Lá mọc xen kẽ so le, thường có 1-2 cái, phiến lá hình khiên chéo, kích thước khác nhau, phần lớn lá không phân thùy. Nhánh trên cùng với 1 lá nên có dạng cuống dài.
Cuống lá khác nhau 8 về chiều dài, cuống nhẵn, dài 20-40 cm. Mặt trên phiến lá có màu đỏ tía kích thước 5- 11 x 7-15 cm, phiến lá mỏng, cả hai bề mặt nhẵn, gốc lá thường tròn. Mép lá rải rác có hoặc rất ít răng cưa.