Đánh giá hoạt tính sinh học của tinh dầu quả ngò và ứng dụng vào sản phẩm gel tắm

Nghiên cứu đánh giá hoạt tính sinh học tinh dầu quả ngò và ứng dụng vào sản phẩm gel tắm tại HCMUTE. Tìm hiểu chi tiết trong bài viết.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

92
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về cây ngò

1.2. Danh pháp và vị trí phân loại

1.3. Đặc điểm thực vật

1.4. Phân bố, trồng trọt và thu hái

1.5. Ứng dụng của cây ngò

1.6. Thành phần hóa học của quả ngò

1.7. Hoạt tính sinh học

1.8. Tổng quan về cây bồ hòn

1.9. Danh pháp và vị trí phân loại

1.10. Đặc điểm thực vật

1.11. Phân bố, trồng trọt và thu hái

1.12. Thành phần hóa học của quả bồ hòn

1.13. Hoạt tính sinh học

2. CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Hóa chất – dụng cụ thí nghiệm

2.4. Phương pháp nghiên cứu quả ngò

2.4.1. Xử lí nguyên liệu

2.4.2. Phương pháp đo độ ẩm

2.4.3. Phương pháp thu nhận tinh dầu

2.4.4. Đánh giá cảm quan và thành phần hóa học của tinh dầu

2.4.5. Phương pháp xác định tỷ trọng của tinh dầu

2.4.6. Phương pháp chiết cao tổng

2.4.7. Phương pháp thử sơ bộ thực vật từ bã ngò

2.4.8. Phương pháp khảo sát hoạt tính sinh học

2.5. Phương pháp nghiên cứu quả bồ hòn

2.5.1. Phương pháp chiết tách saponin

2.5.2. Phương pháp loại tạp chất bằng gia vôi

2.5.3. Phương pháp đánh giá độ tạo bọt

3. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Định danh thực vật và đánh giá nguyên liệu

3.2. Lựa chọn phương pháp chưng cất tinh dầu

3.3. Khảo sát ảnh hưởng của phương pháp chưng cất

3.4. So sánh về cảm quan hai phương pháp chưng tách

3.5. Khảo sát điều kiện chưng cất tinh dầu

3.6. Khảo sát ảnh hưởng của quá trình xử lý nguyên liệu

3.7. Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ chất tải nhiệt

3.8. Khảo sát ảnh hưởng của thể tích nước chưng

3.9. Khảo sát ảnh hưởng của khối lượng nguyên liệu

3.10. Khảo sát ảnh hưởng của độ xốp nguyên liệu

3.11. Đánh giá cảm quan và thành phần hóa học của tinh dầu

3.11.1. Đánh giá cảm quan

3.11.2. Kết quả xác định thành phần hóa học của tinh dầu bằng GC-MS

3.12. Kết quả chiết bã quả ngò sau chưng cất

3.12.1. Cao chiết bã ngò

3.12.2. Khảo sát sơ bộ thực vật của cao bã quả ngò sau chưng

3.13. Kết quả hoạt tính sinh học của tinh dầu và bã quả ngò

3.13.1. Hoạt tính kháng oxi hóa

3.13.2. Hoạt tính kháng viêm

3.13.3. Hoạt tính kháng khuẩn

3.14. Ứng dụng tinh dầu vào sản phẩm gel tắm

4. CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về tinh dầu quả ngò

Tinh dầu quả ngò, được chiết xuất từ cây ngò (Coriandrum sativum), đã được nghiên cứu và chứng minh có nhiều hoạt tính sinh học đáng chú ý. Tinh dầu này chứa nhiều thành phần hóa học như linalool, γ-terpinen, và α-pinene, có khả năng kháng khuẩn, kháng viêm và chống oxy hóa. Việc chiết xuất tinh dầu từ quả ngò không chỉ mang lại lợi ích cho sức khỏe mà còn mở ra cơ hội ứng dụng trong các sản phẩm chăm sóc cá nhân như gel tắm. Nghiên cứu cho thấy, tinh dầu quả ngò có thể giúp cải thiện tình trạng da, mang lại cảm giác thư giãn và dễ chịu cho người sử dụng.

1.1. Thành phần hóa học của tinh dầu quả ngò

Thành phần hóa học của tinh dầu quả ngò rất phong phú, với các hợp chất chính như linalool (chiếm 73,39%), γ-terpinen (6,41%) và 1R-α-pinene (7,67%). Những hợp chất này không chỉ tạo nên hương thơm đặc trưng mà còn mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe. Nghiên cứu cho thấy, linalool có khả năng kháng viêm và kháng khuẩn mạnh mẽ, trong khi γ-terpinen có tác dụng chống oxy hóa. Việc hiểu rõ về thành phần hóa học của tinh dầu quả ngò là rất quan trọng để phát triển các sản phẩm mỹ phẩm tự nhiên an toàn và hiệu quả.

II. Hoạt tính sinh học của tinh dầu quả ngò

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng tinh dầu quả ngò có nhiều hoạt tính sinh học đáng kể. Tinh dầu này cho thấy khả năng kháng khuẩn mạnh mẽ đối với các chủng vi khuẩn như Staphylococcus aureus và Escherichia coli. Kết quả thử nghiệm cho thấy, tinh dầu quả ngò có thể ức chế sự phát triển của các vi khuẩn này, điều này mở ra khả năng ứng dụng trong các sản phẩm tẩy rửa và kháng khuẩn. Ngoài ra, tinh dầu còn có khả năng kháng viêm, giúp giảm sưng và đau nhức, rất hữu ích trong việc chăm sóc sức khỏe và làm đẹp.

2.1. Khả năng kháng khuẩn

Khả năng kháng khuẩn của tinh dầu quả ngò đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu. Tinh dầu này có thể ức chế sự phát triển của nhiều loại vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt là Staphylococcus aureus, một trong những nguyên nhân chính gây nhiễm trùng da. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tinh dầu quả ngò có thể được sử dụng như một thành phần trong các sản phẩm gel tắm để tăng cường khả năng kháng khuẩn, giúp bảo vệ da khỏi các tác nhân gây hại từ môi trường.

2.2. Khả năng kháng viêm

Tinh dầu quả ngò cũng cho thấy khả năng kháng viêm hiệu quả. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tinh dầu này có thể làm giảm tình trạng viêm nhiễm, giúp làm dịu da và giảm đau. Điều này rất quan trọng trong việc phát triển các sản phẩm chăm sóc da, đặc biệt là cho những người có làn da nhạy cảm hoặc dễ bị kích ứng. Việc ứng dụng tinh dầu quả ngò vào gel tắm không chỉ mang lại cảm giác thư giãn mà còn giúp cải thiện tình trạng da một cách tự nhiên.

III. Ứng dụng của tinh dầu quả ngò trong gel tắm

Việc ứng dụng tinh dầu quả ngò vào sản phẩm gel tắm không chỉ mang lại lợi ích cho sức khỏe mà còn góp phần bảo vệ môi trường. Tinh dầu quả ngò có thể thay thế cho các hóa chất độc hại trong sản phẩm chăm sóc cá nhân, tạo ra một sản phẩm an toàn và hiệu quả. Sản phẩm gel tắm chứa tinh dầu quả ngò không chỉ giúp làm sạch da mà còn cung cấp độ ẩm, làm mềm da và mang lại hương thơm dễ chịu. Điều này giúp nâng cao trải nghiệm người dùng và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về sản phẩm tự nhiên.

3.1. Công thức gel tắm chứa tinh dầu quả ngò

Công thức gel tắm chứa tinh dầu quả ngò có thể được phát triển dựa trên các thành phần tự nhiên như chiết xuất từ thực vật, glycerin và các chất tạo bọt tự nhiên. Tinh dầu quả ngò sẽ được thêm vào với hàm lượng phù hợp để đảm bảo hiệu quả kháng khuẩn và kháng viêm. Sản phẩm này không chỉ an toàn cho da mà còn thân thiện với môi trường, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hiện đại. Việc phát triển sản phẩm gel tắm từ tinh dầu quả ngò sẽ góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của việc sử dụng cây ngò trong đời sống hàng ngày.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về cây ngò 1. Danh pháp và vị trí phân loại 1. Danh pháp Tên khoa học: Coriandrum sativum (L) Tên đồng nghĩa: Coriandrum majus Gouan, Hortus monsp; Coriandrum diversifolium Gilib.

Lit; Coriandrum testiculatum Lour. cochinch; Coriandrum globosum Salisb. Stirp; Bifora loureirii Kostel.-pharm; Selinum coriandrum E. Krause in Sturm, Deutschl.[1] Tên gọi của cây ngò trong các ngôn ngữ châu Âu bắt nguồn từ tiếng Latin “coriandrum”, tên này có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp.

Theo John Chadwick cách viết theo tiếng Hy Lạp ở vùng Mycenae - koriadnon rất giống với tên người con gái Ariadna của thần Minos, và từ đó được viết thành koriannon hay koriandron [2]. Tại châu Á, Cây ngò còn được gọi là hồ tuy, nguyên tuy, hương tuy, ngổ thơm, mùi ta,…[3],[4],[5] 1. Vị trí phân loại Giới: Plantae – Plant Giới phụ: Tracheobionta Trên nghành: Spermatophyta Nghành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Apiales Họ: Apiaceae Chi : Coriandrum L. – coriander 1 do an Hình 1.1: Cây và quả ngò 1.

Đặc điểm thực vật Ngò là một loại cây thân thảo hằng năm, tùy theo các điều kiện khí hậu, chúng được trồng vào mùa hè hoặc mùa đông. Khi ra hoa, cây có thể đạt tới độ cao từ 0,20 đến 1,40 m. Ngò là cây hai lá mầm thuộc nhóm rễ cọc.[2] Thân cây khi trưởng thành cứng và rỗng ở bên trong, thân cây thẳng phân nhánh, đường kính thân có thể đạt tới 2 cm, mỗi nhánh kết thúc với một cụm hoa.Tthân thường có màu xanh lá cây và sẽ chuyển sang màu đỏ hoặc tím trong thời kỳ ra hoa.[2] Lá ngò có màu xanh hoặc màu xanh nhạt, mặt dưới thường sáng bóng như sáp. Trong thời kỳ ra hoa, lá chuyển sang màu đỏ hoặc tím và sẽ héo đi trước khi quả chín.

Lá cây có nhiều dạng: lá gốc có cuống dài 2 - 4 cm và bẹ ngắn, hình trứng rộng, đơn hoặc chia tùy không rõ, dài 1 - 1.8cm, khía răng sâu, lá ở thân dưới chia làm ba thùy sâu hình chân vịt có răng nông và to, lá ở giữa thân xẻ 2 - 3 lần hình lông chim. Càng lên trên phiến càng hẹp dần, lá ở ngọn không có cuống, các thùy lá hình sợi nhỏ.[2] 2 do an Hình 1.2: Ảnh lá cây ngò (lá (a) lá phía dưới thân, lá (b,c) lá thân, lá (d) lá ở ngọn) Hoa ngò thường có màu hồng nhạt hoặc trắng, nở thành cụm mỗi cụm gồm 3 – 5 tán hoa kép gần đều mọc ở ngọn thân hoặc kẽ lá, không có tổng bao hoặc chỉ có 1 – 2 lá bắc, tiểu bao cũng chỉ có một vài lá bắc nhỏ, mỗi tán có 6 – 12 hoa dài và có răng không đều, tràng có những cánh phía ngoài không bằng nhau , bầu vòi ngắn.3: Ảnh cấu tạo tán hoa và quả ngò 3 do an Quả ngò có hình cầu hoặc oval, đường kính có thể lên tới 6mm. Trái ngò bể đôi, nhẵn bóng, có cạnh lồi không rõ, gồm hai nửa phân liệt, mỗi nửa có bốn sống thẳng và hai sống chung cho cả hai nửa. Phân bố, trồng trọt và thu hái 1.

Phân bố Căn cứ các tài liệu cổ xưa và các phát hiện khảo cổ học cũng như sự phân bố của cây ngò thì chúng có nguồn gốc từ vùng Cận Đông (tức các nước vùng Balkan phía đông nam Địa Trung Hải). Hiện nay, cây ngò được trồng phổ biến ở Ấn Độ, Việt Nam, nhiều nước ở Trung Á và ven Địa Trung Hải. Tại nước ta ngò được dùng để làm gia vị và làm thuốc, còn tại nhiều nước vùng ven Địa Trung Hải, Trung Á, Trung Quốc, Ấn Độ cây ngò được trồng quy mô lớn để lấy quả làm dược liệu và chưng cất tinh dầu dùng trong nghành công nghiệp hương liệu. Trồng trọt và thu hái Ngò là cây ưa ẩm và ưa sáng thích nghi với khí hậu nhiệt đới điển hình, có thể trồng được ở mùa khô, khi nhiệt độ không khí lên đến 30 oC.

Cây ra hoa trái nhiều, sau khi trái già cây sẽ dần tàn lụi và chết. Sức nảy mầm của hạt giảm dần theo thời gian. Ngò thường được trồng bằng hạt vào mùa thu đông. Gieo liên tiếp nhiều đợt từ tháng 7 đến tháng 11.

Cây tương đối dễ tính, dễ trồng, có thể thích nghi tốt với nhiều loại đất, trừ đất bị nhiễm phèn hay nhiễm mặn nhiều. Tuy nhiên, muốn cây sinh trưởng tốt , đạt năng suất cao thì nên trồng trên những loại đất tơi xốp, có hàm lượng mùn và dinh dưỡng cao. Tại các tỉnh phía Nam ngò có thể trồng được quanh năm, nhưng thích hợp nhất là gieo vào cuối mùa mưa, đầu mùa khô (tức khoảng tháng 10 – tháng 2 năm sau). Cần chọn nền đất tốt tơi xốp không bị nhiễm phèn, nhiễm mặn, nhiễm chua và thoát nước tốt.

Khi trồng lấy quả thì nền đất phải thoáng dãi nắng. Đất sau khi cày sới và qua xử lí được làm luống cao từ 20 – 25 cm, rộng 1 – 1.2 m, tưới 300 l/ha nước giải nguyên chất hoặc nước phân chuồng. Quả ngân nước trong 20 – 30 giờ trước khi gieo, sau đó gieo lên luống, lấp đất bột dày khoảng 1 cm, dùng rơm rạ phủ kín tưới nước thật đều. Mỗi hecta gieo khoảng 12 kg quả.

Sau khi gieo 10 – 15 ngày, trái bắt đầu nảy mầm, tiến hành dỡ bỏ rơm rạ phủ, loại bỏ cỏ dại, tưới nước phân đạm (2%). Trong tháng đầu, tưới 5 – 6 lần với 100 kg đạm/hecta hoặc bón phân hữu cơ. Sau khi cây nảy mầm được 4 do an khoảng 4 tuần thì có thể sử dụng. Nếu trồng lấy quả thì nhổ rau để dùng, để lại cây với khoảng cách 20x20 cm, tưới thêm một đợt phân hữu cơ và loại bỏ cỏ dại.

Cây ngò ra hoa sau khoảng 2 tháng và sau 10 tuần, ngò ra quả. Sau khi gieo khoảng 3 tháng, có thể thu hái. Quả ngò cần được thu hái vào lúc chín để tránh ảnh hưởng đến chất lượng hạt cũng như rơi rụng khi quả khô. Khi thu hoạch cắt cả tán về làm khô rồi đập lấy quả rồi tiếp tục phơi thật khô, bảo quản quả ở nơi kín đáo khô ráo.

Nếu dùng làm giống thì tuyển chọn những quả có chất lượng tốt. Mỗi hecta có thể thu hoạch được 6 – 8 tạ trái. Ngò có rất ít sâu bệnh hại, nếu có chỉ là sâu cắn phá lá rau. Có thể sử dụng chế phẩm Sherpa hoặc Biocin để phun.

Tuy nhiên, do thời gian canh tác rau ngắn nên cần tính toán kỹ thời gian phun thuốc để thu hoạch cho thích hợp. Ứng dụng của cây ngò 1. Trong y học Cây ngò đã được sử dụng trong y học trong hàng nghìn năm. Việc sử dụng cây ngò làm thuốc đầu tiên đã được ghi chép lại bởi người Ai Cập cổ đại.

Các tài liệu tham khảo về việc sử dụng cây ngò cũng được tìm thấy trong văn học Hy Lạp và Latinh cổ điển. Ở Angieri, nước hãm của rau ngò trị bệnh nuốt hơi. Ở Peru, người ta dùng lá ngò để chữa chảy máu cam, và chứng say leo núi. Ở Indonesia, quả ngò dùng làm thuốc uống chữa ho, bệnh phong, khó tiêu và tức ngực.

Ở Ấn Độ, quả ngò dùng để che dấu mùi khó chịu của thuốc khác và khắc phục tác dụng phụ của các thuốc khác như đại hoàng và phan tả diệp. Nhai quả ngò còn giúp trị hôi miệng và làm giảm độc tính của rượu.[6], [7],[8] Trong đông y, các loại ngò thường có vị cay, tính ấm, vào phế, vị dùng để hỗ trợ tiêu hóa, tiêu đờm, gây trung tiện. Ngò cũng được sử dụng để điều trị viêm, thấp khớp, chứng hôi miệng. Ngò còn là thảo dược chính dùng để điều trị bệnh sởi.

Khi trẻ lên sởi, dùng một nắm ngò sắc nóng cho trẻ uống, đắp chăn cho vã mồ hôi. Bên ngoài, dùng một nắm lá ngò tươi, giã nát, chưng nóng, hoặc một nắm quả ngò khô giã dập, chế thêm ít rượu, chưng nóng, gói lại bằng vải thưa, xát cho trẻ từ đầu xuống chân, sởi sẽ mọc đều và tránh biến chứng. Để chữa bệnh gan thận hư hàn, di tinh, xuất tinh sớm, dùng quả ngò đem đi sao, giã dập pha với trà uống. Quả ngò còn làm thuốc hỗ trợ đường tiêu hóa, trị ho lợi sữa.[6],[7],[8] 5 do an Trong y học hiện đại, quả ngò dùng làm thuốc dễ tiêu, gây trung tiện, an thần, làm mát, kích thích tình dục và lợi tiểu mạnh.

Ngoài ra, chiết xuất quả ngò còn có mặt trong thuốc trị bệnh nhiễm độc gan Livomyn ở Ấn Độ. Ở Trung Quốc và Ả Rập Xê-út quả ngò còn được dùng để làm thuốc tránh thai. Alsaid và cộng sự thuộc viện nghiên cứu dược Ả Rập Xê-út đã nghiên cứu dịch chiết từ quả ngò và kết luận chúng có tác dụng chống thụ thai trên chuột cái qua sự ảnh hưởng lên chu kỳ động dục, chống trứng làm tổ, gây sảy thai, thông qua sự gia tăng nồng độ progesterone trong máu. Kết luận cho thấy quả ngò có tác dụng chống trứng làm tổ rất tốt, đặc biệt không gây tác dụng phụ và ánh hưởng đến các thế hệ sau.

Trong ẩm thực Quả chín của cây ngò có hương vị dễ chịu do thành phần đặc biệt của tinh dầu. Việc sử dụng ngò như một loại gia vị đã được ghi chép từ thời cổ đại, quả ngò đã được sử dụng để tẩm ướp cá và thịt. Món bánh mì lúa mạch đen nổi tiếng của nước Nga “Borodinskij chleb” được tẩm ướp với bột quả ngò để gia tăng hương vị kích thích vị giác người ăn. Ở Ethiopia, quả ngò được sử dụng rộng rãi cùng với các loại gia vị khác để tăng thêm hương vị cho “berbere” một loại bột ớt đỏ cay, được sử dụng cho nhiều món thịt và món chay.

Ở Ấn Độ, quả ngò là một loại gia vị rất phổ biến và rẻ tiền, hầu hết quả ngò được tiêu thụ thông qua chế phẩm bột cà ri, trong đó chúng chiếm 25-40% thành phần. Cũng tại đây, quả ngò được ưa chuộng và sử dụng rộng rãi như một thứ gia vị quan trọng không thể thiếu trong việc làm xúc xích, bánh ngọt, bánh quy, và cả các sản phẩm thuốc lá. Các cây non được dùng trong các loại tương ớt và nước sốt. Ngò cũng được sử dụng để tạo hương vị cho một số đồ uống có cồn, ví dụ: rượu Gin (Tên tiếng Đức “Schwindelkorner”).

Người Ai Cập cổ đại cũng đã sử dụng loại cây này trong sản xuất rượu vang. Trong công nghiệp hương liệu Nhà máy đầu tiên chưng cất tinh dầu hạt ngò được xây dựng ở Nga vào năm 1885 tại quận Vorone. Tinh dầu thu được bằng cách chưng cất lôi cuốn hơi nước quả ngò sau khi nghiền. Hiện nay, tinh dầu đã được sản xuất bằng phương pháp chiết xuất carbon dioxide siêu tới hạn cho hiệu suất và chất lượng rất cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu hoạt tính sinh học tinh dầu quả ngò và ứng dụng trong gel tắm" khám phá những lợi ích của tinh dầu quả ngò, đặc biệt là trong việc phát triển sản phẩm gel tắm. Nghiên cứu chỉ ra rằng tinh dầu này không chỉ có khả năng kháng khuẩn mà còn mang lại cảm giác thư giãn và làm sạch cho da. Điều này mở ra cơ hội cho việc ứng dụng tinh dầu quả ngò trong ngành công nghiệp mỹ phẩm, giúp nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến công nghệ thực phẩm và ứng dụng của các thành phần tự nhiên, bạn có thể tìm hiểu thêm về nghiên cứu sản xuất bột khoai tây và ứng dụng chế biến bánh cookies bổ sung bột khoai tây. Bài viết này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về việc ứng dụng nguyên liệu tự nhiên trong sản xuất thực phẩm.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tham khảo nghiên cứu sản xuất sản phẩm nước chuối lên men, nơi mà các phương pháp chế biến và ứng dụng nguyên liệu tự nhiên được thảo luận chi tiết.

Cuối cùng, bài viết về xây dựng chương trình HACCP cho dây chuyền sản xuất cà phê rang xay moka sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình đảm bảo an toàn thực phẩm trong sản xuất, một yếu tố quan trọng trong ngành công nghiệp thực phẩm hiện nay.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức của bạn mà còn giúp bạn nắm bắt được xu hướng và ứng dụng mới trong lĩnh vực thực phẩm và mỹ phẩm.