ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay, y học có nhiều tiến bộ vượt bậc, nhưng bên cạnh đó, tỷ lệ người mắc các bệnh mãn tính như ung thư, tim mạch, Alzheimer, tiểu đường,… ngày càng gia tăng và có xu hướng trẻ hóa. Các thuốc tân dược sản xuất từ các hóa chất thông qua tổng hợp hoặc bán tổng hợp sử dụng trong điều trị cho tác dụng nhanh, hiệu quả điều trị cao nhưng kèm theo đó là các tác dụng phụ và gây độc đối với cơ thể. Từ xưa, nguồn thực vật đã đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người. Các hợp chất tự nhiên là nguồn thành công nhất trong việc khám phá ra các loại thuốc mới [35].
Liên hệ thực tiễn, Việt Nam có hệ thực vật phát triển phong phú và đa dạng với hơn 12000 loài thực vật có mạch, trong đó có hơn 5000 loài thực vật dùng làm thuốc được phân bố rộng khắp cả nước [7]. Đây chính là nguồn tài nguyên tiềm năng và cũng là động lực thúc đẩy việc nghiên cứu và phát triển các hợp chất có hoạt tính sinh học tốt từ dược liệu. Mặc dù có nhiều hướng tiếp cận vấn đề nghiên cứu khác nhau nhưng quá trình nghiên cứu thường bắt đầu bằng việc đánh giá một số lượng lớn các mẫu dược liệu hoặc hoạt chất. Giai đoạn này gọi là giai đoạn nghiên cứu sàng lọc.
Một thuốc mới ra đời phải trải qua nhiều giai đoạn, gian nan, tốn nhiều thời gian và chi phí. Quá trình nghiên cứu sàng lọc sẽ loại bỏ các mẫu không có giá trị thực sự, tuyển chọn các mẫu tiềm năng, giúp tiết kiệm thời gian và tiền bạc trong các quá trình nghiên cứu tiếp theo. Chi Alphonsea là một chi nhỏ thuộc họ Na (Annonaceae), phân bố chủ yếu ở Trung Quốc, khu vực Indo-Malay, Việt Nam, Lào và một số nước khác. Các hợp chất đã được phân lập và xác định cấu trúc của chi này chủ yếu là alkaloid, ngoài ra còn có các nhóm chất như steroid, lignan, terpenoid [15].
Một số nghiên cứu cho thấy một số dịch chiết hay những hợp chất phân lập từ các loài thuộc chi Alphonsea có hoạt tính sinh học tốt như chống oxy hóa, gây độc tế bào ung thư, kháng khuẩn, kháng nấm, kháng viêm và kháng kí sinh trùng [25], [36], [42], [44]. Như vậy, có thể thấy 2 chi Alphonsea có tiềm năng cho những nghiên cứu tìm kiếm hoạt chất mới có tác dụng sinh học nhằm định hướng phát triển các sản phẩm góp phần chăm sóc sức khỏe con người sau này. Loài Thâu lĩnh Alphonsea toninensis A., cho đến nay chỉ mới được nghiên cứu về thành phần tinh dầu của lá, thân và một số thành phần hóa học. Ngoài ra chưa tìm được các nghiên cứu nào về hoạt tính sinh học của loài này ở Việt Nam cũng như trên thế giới.
Nhận thấy tiềm năng cũng như muốn đóng góp vào nền tri thức tự nhiên, chúng tôi đề xuất nghiên cứu đề tài với mục tiêu: 1. Phân lập và xác định cấu trúc hợp chất alkaloid từ cây Thâu lĩnh (Alphonsea toninensis A. Nghiên cứu một số tác dụng sinh học của cây Thâu lĩnh: tác dụng ức chế enzyme acetylcholinesterase, tác dụng chống oxy hóa, tác dụng gây độc tế bào ung thư và tác dụng kháng viêm. Tổng quan về chi Alphonsea 1.
Vị trí phân loại và phân bố Chi Alphonsea là chi nhỏ thuộc họ Na (Annonaceae), bộ Ngọc Lan (Magnoliales), lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) [4]. Được phân bố chủ yếu ở Trung Quốc và khu vực Indo-Malay, một số khác phân bố ở Ấn Độ, Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Campuchia,… [15]. Theo The Plant List, WCSP (World Checklist Of Selected Plant Families) đã công bố chi Alphonsea có 38 loài [53]. Trong đó, có 7 loài phân bố ở Việt Nam là A.
Các loài này phân bố chủ yếu ở một số tỉnh như Lào Cai, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Kon Tum,… [1]. Đặc điểm thực vật Các cây trong chi Alphonsea thường là những cây bụi hoặc cây nhỏ, có chiều cao trung bình với lá xen kẽ, không có lá kèm. Lá thường nhẵn, đôi khi có lông. Hoa lưỡng tính, đơn độc hoặc mọc thành cụm hoa, cuống lá ngắn.
Lá đài 3, mở bằng mảnh vỏ (xếp van) khi ở trong nụ. Cánh hoa 6, mọc thành 2 vòng. Nhị hoa nhiều số lượng thay đổi từ 15-60. Bao phấn hướng ngoài, hạt phấn gần hình cầu.
Noãn xếp thành 2 hàng, hình dạng có thể là hình trứng, hình cầu, hoặc hình trụ. Lá noãn rời; trên mỗi lá noãn, mọc thành 2 loạt; vòi nhụy hình trụ, ngắn; đầu nhụy hình đầu khó thấy, với một khe nứt xuống phía dưới ở mặt trong [1], [28]. Thành phần hóa học Hiện nay, chưa có nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học của các loài thuộc chi Alphonsea. Thành phần hóa học phân lập được từ chi này chủ yếu là alkaloid, ngoài ra còn có steroid, lignan, terpenoid [15].
Thành phần hóa học của một số loài thuộc chi Alphonsea Nhóm Loài Hoạt chất TLTK hợp chất Liriodenine; oxostephanine; [15], [50] A. mollis mollisine; 2,6-dimethoxy-5- hydroxy onychine Liriodenine; cyathocaline; [15], [51] A. monogyma isooncodine; darienine; 6,7- dimethoxy-5-hydroxy onychine A. ventricosa Glaucine; nor-glaucine [15], [32] Liriodenine; anonaine; isoboldine; [15], [43] ushinsunine; norushinsunine; stepharine; stepholidine; A.
sclerocarpa candicine; magnoflorine; Alkaloid laurotetanine; phenethyltrimethylammonium; crotsparine. cylindrica King N-methylouregidione; lysicamine; isoursuline; cyathocaline; O- methylmoschatoline; isooncodine. elliptica cepharadione A; kinabaline; N-methylouregidione. stigmasta-4, 6, 22-trien-3-one; [15] A.
curtisii stigmast-22-ene-3,6-dione; Steroid stigmast-22-ene-3-one A. cylindrica King stigmasterol [16] Conocarpan; (2R,3R)-2,3-dihydro- [15] Lignan A. mollis 2-(4-hydroxy methoxyphenyl)-3- methyl-5-(E)-propenylbenzofuran Bicyclogermacrene; β-pinene [15], [45] bicycloelemene; β-caryophyllen; A. philastreana (E)-β-ocimene, γ-eudesmol; guaiol; α-humulene; (E)- Terpenoid bocimene.
gaudichaudiana viridiflorol; bicyclogermacrene; γ-eudesmol; guaiol; (E)-β-ocimene 5 R1 = OCH3, R2 = OH, R3 = H: 2,6- dimethoxy-5-hydroxy onychine R1 = H, R2 = OH, R3 = OCH3: 6,7- R1= OCH3, R2= OCH3, R3= R1= H, R2= H: Liriodenine dimethoxy-5-hydroxy onychine OCH3: O-methylmoschatoline R1= OCH3, R2= H: R1 = H, R2 = OH, R3 = OH: R1= OCH3, R2= OCH3, R3=H: Oxostephanine Cyathocaline Lysicamine R1= OCH3, R2= OCH3: R1 = H, R2 = H, R3 = OH: Issoncodine R1R2= -OCH2O-, R3= OCH3: R1 = H, R2 = OCH3, R3 = OH: Mollisine Darienine Atherospermidine Kareemine Crebanine R1= H, R2= H, R3= H, R4= H: Sarsiflorine R= CH3: Glaucine Magnoforine R1= H, R2= OH, R3= CH3, R4= CH3: R= H: Norglaucine Laurotetanine R1= CH3, R2= OH, R3= CH3, R4= H: Isoboldine Hình 1. Công thức hóa học của một số alkaloid được phân lập từ chi Alphonsea Stigmasta-4,6,22-trien-3-one Stigmast-22-en-3,6-dione Stigmast-22-en-3-dione Hình 1. Công thức hóa học một số steroid phân lập từ chi Alphonsea 6 (2R,3R)-2,3-dihydro-2-(4-hydroxy-3- methoxyphenyl)-3-methyl-5-(E)-propenylbenzofuran Conocarpan Hình 1. Công thức hóa học hai neolignan được phân lập từ chi Alphonsea Bicyclogermacren Guaiol γ-eudesmol α-humulen (E)-β-ocimen β-pinen Bicycloelemen Hình 1.
Công thức hóa học của một số terpenoid được phân lập từ chi Alphonsea 1. Hoạt tính sinh học Một số nghiên cứu đã chỉ ra các hoạt tính sinh học có giá trị của các loài thuộc chi Alphonsea như: gây độc tế bào ung thư, chống oxy hóa, kháng viêm, kháng khuẩn, kháng nấm, kháng kí sinh trùng [25], [36], [42], [44]. Hoạt tính gây độc tế bào ung thư Hợp chất crebanine chiết xuất từ A. sclerocarpa có hoạt tính gây độc tế bào nguyên tủy ở người K562 [42].
Một nghiên cứu khác cho thấy rằng, các chất được phân lập từ các dịch chiết của vỏ của A. Hoạt tính chống oxy hóa Hợp chất crebanine được phân lập từ loài A. sclerocarpa được thử nghiệm hoạt tính chống oxy hóa bằng phương pháp trung hòa gốc tự do DPPH và phương pháp khử ion sắt III (FRAP). Kết quả cho thấy hoạt tính chống oxy hóa của crebanine mạnh hơn so với đối chứng dương là ascorbic acid [42].
7 Nghiên cứu khác về hoạt tính chống oxy hóa của các hợp chất phân lập từ dịch chiết của vỏ A. cylindrica bằng phương pháp trung hòa gốc tự do DPPH, kết quả cho thấy các hợp chất: iraqiine, kareemine, muniranine, kinabaline, O- methylmoschatoline và N-methylouregidione có tác dụng chống oxi hóa, giá trị IC50 lần lượt là 48,8 1,0; 101,7 1,5; 44,5 1,1; 64,3 0,9; 144,2 1,2; 94,3 0,8 μg/mL [11]. Hoạt tính kháng viêm Nghiên cứu về hoạt tính kháng viêm của dịch chiết MeOH loài A. javanica trên dòng tế bào RAW 264.7 bằng phương pháp NF-κB và MTT cho thấy, dịch chiết có khả năng kháng viêm bằng cách giảm sản xuất NO do LPS, giảm phosphoryl hóa IκB, giảm biểu hiện của iNOS và COX-2.
Ngoài ra, khi sử dụng kĩ thuật qPCR cho thấy sự giảm đáng kể của 8 cytokin/enzyme gây viêm gồm COX-2, iNOS, IP-10, IL- 1, MCP-1, GCS-F, IL-6, IFN- [25]. Hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm Hai chất lysicamine và O-methylmoschatoline phân lập từ vỏ cây A. cylindrica King đã cho kết quả kháng lại ba loài vi khuẩn là Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa và Bacillus cereus [44]. Dịch chiết từ lá của A.
sclerocarpa Thaw cho tác dụng kháng khuẩn trên 4 chủng vi khuẩn gram dương là Bacillus subtilis, Lactobacillus acidophilus, Staphylococcus aureus, Streptococcus mutans và 4 chủng gram âm là Escherichia coli, Klebsiella pneumonia, Pseudomonas aeruginosa, Proteus vulgaris. Kết quả cho thấy giá trị đường kính vùng ức chế của các dịch chiết đều nhỏ hơn đối chứng dương là streptomycin. Ngoài ra, các dịch chiết ấy còn cho hoạt tính kháng nấm trên năm chủng nấm Aspergillus brasiliensis, Aspergillus flavus, Aspergillus niger, Aspergillus solani và Candida albicans. Kết quả là các dịch chiết có khả năng ức chế nấm mạnh hơn so với đối chứng dương sử dụng là fluconazol [19].
Hoạt tính kháng kí sinh trùng Trong thử nghiệm in vitro dịch chiết MeOH của lá và thân cây A. maingayii đã được chứng minh hoạt tính kháng Trypanosoma brucei cruzi gây bệnh Chagas với IC50 > 12,5 ppm [36]. Nhìn chung, nghiên cứu hoạt tính sinh học của chi Alphonsea vẫn còn hạn chế. Tổng quan về loài Thâu lĩnh (Alphonsea tonkinensis A.
Phân loại Alphonsea tonkinensis A. có tên Việt Nam là Thâu lĩnh hay còn gọi khác là an phong Bắc Bộ, thuộc chi Alphonsea, họ Na (Annonaceae). Phân bố chủ yếu ở bán đảo Đông Dương. Loài này có 2 phân loài là Alphonsea tonkinensis var.
tonkinensis và Alphonsea tonkinensis var. Đặc điểm thực vật Thâu lĩnh là cây gỗ nhỏ, cao 7-8 m, nhánh mảnh, không lông. Lá mỏng, nhẵn có phiến thon, dài 10-13 cm, gân bên 10-11 đôi, mờ nhưng hơi nổi ở cả hai mặt, cách mép chừng 3 mm, cuống lá dài 3-4 mm. Hoa màu vàng, mọc đơn độc hoặc thành từng cặp, đối diện với lá, cụm hoa dài 3-5 mm mang lá bắc nhỏ, cuống hoa dài 3-7 mm, gần như nhẵn, lá đài hình tam giác, nhỏ, mặt ngoài có lông, cánh hoa hơi nhọn, có túi ở đáy, noãn 11-12, hơi có eo, hạt nhiều, xếp thành hai hàng có vảy, lông màu nâu đỏ.
Cây ra hoa tháng 3-4, có quả vào tháng 5-7 [28]. Thành phần hóa học Cho đến nay, có rất ít nghiên cứu về thành phần của cây A. Chỉ mới có nghiên cứu về thành phần tinh dầu của nhóm tác giả Nguyễn Viết Hùng.