Chương 1. TONG QUAN VE BINH BAT 1. Vi trí phân loại Giới : Thực vật Ngành : Thực vật hạt kín - Magnoliophyta Lớp — : Hai lá mam - Magnoliopsida Bộ : Mộc lan — Magnoliales Họ : Mang cầu — Annonaceae Chi : Mang cầu — Annona Loài : Binh bat — Annona glabra L. Tên tiếng Việt: bình bát, nê, na biển (Trung tâm Dữ liệu Thực vật Việt Nam, 2023 [10]).
Đặc điểm Bình bát là loài cây hoang dại mọc ở điều kiện ngập nước. Cây có thê sống ở các vùng sinh thai đặc biệt như nước lg, thậm chí cây có thê mọc dưới các mương nước vừa phèn, vừa mặn. Cây bình bát là cây thân gỗ nhỏ, cao 2 - 5 m, cành ít phân nhánh. Lá không lông, hình xoan hay xoan tròn dai.
Hoa vàng, rộng 2 cm, lá đài xanh đài 5 mm, hoa có 6 cánh hoa đài 2 - 3 cm, có bớt đỏ ở trong. Quả bình bát là quả kép có màu xanh, đài 7 - 10 cm, không có gai, khi chín quả có màu vàng [1]. Công dụng bình bát Các bộ phận khác nhau của bình bát gồm thân, qua, hạt, lá và rễ cây đều được ứng dung dé làm được liệu. Trong đông y, bình bát có tác dung kháng khuẩn, kháng viêm; hỗ trợ hệ bài tiết nhuận trang, lợi tiểu; giúp thanh nhiệt, giải độc: an thần, chống tram cảm.
Vị thuốc bình bát được dùng trong điều trị mé day man ngứa, trị bệnh lao phối, hỗ trợ cải thiện các bệnh xương khớp và điều trị tiểu đường [2]. Các công trình nghiên cứu [11,12] cho thấy bình bát có tác dụng kháng nam, ức chế sự phát triển của một số loại vi khuẩn như trực khuẩn Ij và vi khuẩn gây viêm đường hô hấp. tiêu diệt côn tring, chay, rin. Theo đó, flavonoid thu được chiết xuất ethyl acetate của lá bình bát có hiệu quả chống lại Pseudomonas aeruginosa nhờ vào khả năng tương tác với thành tế bào vi khuẩn [11].
Chiết xuất từ hạt bình bát được ghi nhận có khả năng ức chế nhiều loài vi khuan (hình 1. *h tdke eSBsz %\bhtice sBoe8a >bhtke 0dc56829ỡ4 *bht ke 8Bo2S Hình 1. Tỉ lệ phần trăm ức chế một số vi khuẩn của họ Annonacea Bên cạnh đó, chiết xuất từ hạt, vỏ thân và rễ bình bát cũng được ghi nhận có khả năng gây độc tế bào tế bảo ung thư phôi, ung thư kết máu,. Các nghiên cứu liên quan đến bình bát 1.1, Nghiên cứu tai Việt Nam Năm 2015, tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền và cộng sự đã tiễn hành phân lập thành phần hóa học của cao methanol từ quả bình bát khô.
Đề tài đã công bố được một số hợp chất có khả năng gây độc tế bào ung thư máu ở người. hợp chất icariside D2 thé hiện hoạt tính gây độc đáng kẻ trên dòng tế bao HL — 60 [3]. Nam 2019, tác giả Huỳnh Thanh Duy và cộng sự đã tiền hành khảo sát thành phan hoá học và kha năng kháng oxy hoá của các phân đoạn cao chiết lá già từ cây bình bát. Kết quả cho thấy lá già bình bát khi ly trích với các dung môi khác nhau đều xuất hiện các hợp chất có kha năng kháng oxy hoá như flavonoid, alkaloid, saponin,.
Bên cạnh đó, kết quả thí nghiệm với các gốc tự do DPPH, H20> và năng lực khử cũng ghi nhận các cao chiết đều có khả năng kháng oxy hoá cao [4]. Củng năm 2019, tác gia Lưu Phong Dũ và cộng sự đã thực hiện khảo sát một số hợp chất có khả năng kháng oxy hoa, kháng khuan và kháng nắm của cao chiết từ lá bình bát. Khả năng kháng oxy hóa của các nghiệm thức cao chiết được đánh giá qua khả năng khử gốc tự do DPPH và H:O:. Theo đó, cao methanol có khả năng khang oxy hoá mạnh nhất với giá trị ECsa lần lượt là 59,03 pg/mL va 139,27 pg/mL.
Kết quả còn cho thay kha năng kháng hai đồng vi khuẩn B. coli và khả năng ức chế dòng nam Candida albicans của các loai cao chiét 1a kha tốt [13]. Nghiên cứu ở nước ngoài Nam 1998, tác giả Teresa Gallardo và cộng sự đã tiền hành đề tài nghiên cứu về các hợp chất acetogenin có trong hạt bình bát. Đây là nhóm hợp chất có tính chất ức chế mạnh mẽ đôi với quá trình sinh năng lượng của tế bào, dẫn đến tôn thương và gây chết của tế bào.
Đề tài đã công bố 12 hợp chất acetogenin đã được tìm thấy trong hai loại cao chiết của hạt bình bát, chứng minh cho khả năng gây độc tế bào của hạt bình bát là rất lớn [7]. Năm 2008, Curtis Bruce Cochrane vả cộng sự đã tiền hành đánh giá hiệu quả chống ung thư của chiết xuất ethanol lá, hat, thịt quả bình bát đối với các dong tế bào ung thư máu ở người. Hiệu quả gây độc tế bao ung thư thé hiện trên đòng tế bào ung thư nhạy cảm với thuốc (CEM) và dòng tế bao ung thư đa kháng thuốc (CEM/VLB) nhưng không thé hiện đối với tế bào lympho bình thường. Cao ethanol từ hạt được ghi nhận là có kha năng gây chết tế bao ung thư cao hơn so với cao ethanol từ thịt quả và lá.
Cơ chế chính của khả năng kháng ung thư được giải thích là do sự tăng biêu hiệu của gene mã hoá cho các chat ức chế protein kinase, dẫn đến ức chế quá trình phân chia tế bào gây sự chết theo chương trình [5]. Nam 2018, Yin Liu và cộng sự trong công bố đề tai “In vitre mitochondria- mediated anticancer and antiproliferative effects of Annona glabra leaf extract against human leukemia cells” đã chứng minh cao chiết côn của lá bình bát có kha năng khang oxy hoá cao thông qua ba phương pháp FRAP, bat gốc tự do DPPH và bắt gốc tự do ABTS". Đề tài cũng ghi nhận sự chết theo chương trình của tế bào ung thư máu khi được ủ với cao chiết ở nông độ §0 và 100 pg/mL lần lượt là 10,7% và 22. Từ những công bó trên, đẻ tài nhận thấy lá bình bát thé hiện hoạt tính sinh học tốt ở khả năng kháng oxy hoá, gây độc tế bao ung thư, kháng nam, kháng vi khuẩn.
Hạt bình bát thé hiện khả năng gây độc tế bao ung thư cao với nhiều hợp chất acetogenin đã được tìm thấy. Tuy nhiên, quả bình bát vốn được sử dụng rộng rãi trong thực phâm lại chưa được quan tâm nghiên cứu. TONG QUAN VE GÓC TỰ DO 1. Nguồn gốc của gốc tự do trong cơ thé Gốc tự do, hay còn được gọi là free radical, là những nguyên tử hay phân tử không cân băng vẻ điện do bị mắt clectron ở lớp ngoài cùng.
Sự mat cân băng này khiến cấu trúc của chúng không ôn định. Vì vậy các gốc tự do thường có xu hướng lay điện tử từ các phân tử khác đẻ đạt trạng thái bèn vững hơn, quá trình nay dẫn đến tạo ra chuỗi các gốc tự do khác [14]. Các gốc tự đo được tạo ra thông qua các quá trình sinh hoá trong cơ thé. Trong chuỗi truyền electron của quá trình hô hấp tế bào, oxygen là chất nhận điện tứ cuối cùng đề tạo thành nước, giai đoạn này có thẻ xuất hiện các dang oxy hoá không ôn định, tạo thành các gốc tự do như gốc hydroxyl (*OH-), gốc superoxide (sO›) và gốc nitric oxide (*NO-).
Các gốc tự do cũng có thê được tạo ra trong dạ dày và ruột nhờ quá trình tiêu hoá thức ăn. Nong độ các gốc tự do trong tế bào sẽ được được gia tăng nếu gặp phải các tác động như: chất phóng xa, tia UV, ô nhiễm môi trường. áp lực cuộc sông gây stress dẫn đến rồi loạn nội bào cũng tạo điều kiện dé các gốc tự do được sinh ra nhiều hơn. Tác hại của gốc tự do Các gốc tự do khác nhau sẽ có tác động khác nhau đến thành phần của tế bào.
Ví dụ: gốc superoxide gây mat ôn định cau trúc màng sinh chất và giải phóng acid béo; gốc hydroxyl (-OH) tan công gây ton thương màng tế bào, kích thích sự phân tách cau trúc xoắn kép của DNA [L5].1 mô tả quá trình peroxide hoá lớp lipid ở màng tế bao. Theo đó, phân tử lipid chưa bão hoà ban dau sau khi tiếp xúc với gốc oxy hoá mạnh là hydroxyl đã bị mắt điện tử và trở thành một gốc tự do lipid mới (lipid radical). Gốc này có khả năng kết hợp với O; tạo thành gốc tự do lipid peroxyl. Góc lipid peroxyl có tác động tương tự với hydroxyl ban đầu, nó lay điện tử từ một phân tử lipid chưa bão hoà khác trên màng tế bảo đề trở thành lipid peroxide.
Phân tử lipid vừa bị mắt điện tử tiếp tục trở thành gốc tự do mới và đi tìm phân tử lipid khác đề lay điện tử. Quá trình này lặp đi lap lại khiến các phân tử lipid trên màng tế bào chuyên dan thành dang lipid peroxide, gây ton thương màng tế bao. H,O ⁄ + "OH _}, ⁄ Lipid radical Initiation Unsaturated lipid mee R Lipid peroxide Lipid peroxyl radical Hình 1. Quá trình peroxide hoá lipid màng tế bao (Wolfhardt Freinbichler et al., 2011) Sự oxy hoá theo đây chuyên này néu không được kiểm soát sẽ tạo ra ngày càng nhiều các gốc tự do dẫn đến stress oxy hoá trong tế bào [16].
Stress oxy hoá có thé gây ra một số bệnh lí như: xơ vữa động mạch, ung thư, xơ gan,. Tình trạng bệnh lý có thê tiền trién nhanh hơn vả nặng hơn nếu người bệnh mang nhiều yếu tố nguy cơ (6 nhiễm, rượu bia,. Phân loại các gốc tự do Các gốc tự do được thành hai nhóm chính: gốc tự do chứa oxygen — ROS va gốc tự do chứa nitrogen — RNS; trong đó nhóm gốc tự do ROS phố biến hon va có vai trò quan trọng hơn [17]. Một số gốc tự do phô biến có thé kể đến như: - Superoxide (O›): đây la gốc tự do ROS phô biến nhất, được hình thành chủ yếu ở ti thé.
Gốc này có thê tồn tại đưới dạng hydroperoxyl (HO›) ở môi trường có pH thắp, giúp xuyên qua lớp phospholipid kép của màng tế bào dé dàng hơn. - Hydroxyl (OH): đây là gốc tự do có kha nang phản ứng mạnh mẽ nhất trong số các góc tự do nhóm ROS. Nó có thé phan ứng với các phân tử vô cơ lẫn hữu cơ (bao gồm DNA, protein, lipid, carbohydrate) dẫn đến gây tôn thương nghiêm trong cho tế bào. - Hydrogen peroxide (H202): gốc tự do được hình thành từ phản ứng phân huỷ được xúc tác bởi enzyme superoxide effutase.
HạO; có thê gây tôn hại cho tế bào ở nông độ tương đối thấp (10 #M), ở mức nồng độ cao hơn nó có thẻ gây bat hoạt các enzyme sản xuất năng lượng như glyceraldehhyde-3-phosphate dehydrogenase.