Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƯ VIỆN VÀ KHÁI QUÁT VỀ THƯ VIỆN VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM 12 1. Cơ sở lý luận về hoạt động thông tin - thư viện 1. Khái niệm về hoạt động thông tin - thư viện * Khái niệm hoạt động Theo quan điểm Triết học, khái niệm “hoạt động” được hiểu là một phương pháp đặc thù của con người trong mối quan hệ với thế giới xung quanh nhằm cải tạo thế giới theo hướng phục vụ tốt hơn cho cuộc sống của mình. Trong mối quan hệ ấy, chủ thê của hoạt động, là con người, khách thể của hoạt động là tắt cả những gì mà hoạt động tác động vào, qua đó tạo ra được sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể.
Mục đích trên đây thể hiện trong nhiều lĩnh vực và trên nhiều dạng hoạt động xã hội khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt, khái niệm “hoạt động” được hiểu là tiến hành các việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm mục đích chung, trong một lĩnh vực nhất định” [23, tr. 341] Theo các nhà tâm lý học, “hoạt động” là một chuỗi các hành động kế tiếp nhau tác động vào một đối tượng nhất định nhằm một mục đích nhất định và có một ý nghĩa nhất định Như vậy, có thể hiểu khái niệm “hoạt động” là tiền hành các nhiệm vụ có liên quan mật thiết với nhau theo chức năng để đạt được mục tiêu chung của một tô chức, đơn vị nhất định. Thư viện với chức năng cơ bản của mình vừa là thiết chế văn hóa, giáo dục vừa là cơ quan truyền bá thông tin, phổ biến kiến thức cho mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trên cơ sở này có thể xác định khái niệm “hoạt động” trong lĩnh vực thông tỉn - thư viện là tiến hành toàn bộ các công việc nghiệp vụ thuộc chức năng và nhiệm vụ của một cơ quan thông tin - thư viện. * Khái lệm hoạt động thông tin - thư viện “Thông tin” là một khái niệm cho đến nay có nhiều quan điểm khác nhau tùy theo góc. Dưới góc độ triết học theo nghĩa rộng, có thê coi thông tin là thuộc tính phản ánh của vật chất. Theo nghĩa hẹp dưới góc độ xã hội, thông tin là các tin tức, sự kiện, tri thức được thông báo, được truyền đi, được tiếp nhận và được sử dụng bởi con người.
Tin tức, dữ kiện chỉ thực sự trở thành thông tin khi nó được truyền đi và được tiếp nhận, sử dụng. 13 Theo nghĩa đó, “hoạt động thông tin” là một quá trình tác động, cải biến thông tin, trí thức theo cách nào đó để có thê được truyền đi, được nhận và sử dụng không ngừng với hiệu quả cao. Nhu vậy hoạt động thông tin sẽ bao gồm các hành động sáng tạo, thu thập, xử lý, lưu trữ và phô biến thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu tin của người sử dụng và duy trì hoạt động sống của con người Xuất hiện từ khi loài người có chữ viết và tồn tại để đáp ứng nhu cầu đọc của con người, thư viện có thể hiểu một cách khái quát là nơi tàng trữ và sử dụng tài liệu có tính chất tập thể và xã hội. Như vậy hoạt động thư viện phải đảm bảo cả hai mặt và có mối quan hệ hữu cơ với nhau là tàng trữ tài liệu và tạo mọi điều kiện cho người đọc sử dụng tài liệu đó.
Nói cách khác, “hoạt động thư viện” là quá trình thu thập tài liệu, xử lý, lưu trữ và phổ biến tài liệu cho người đọc [21, tr. 5] Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông đã xâm nhập sâu rộng vào hoạt động thư viện, xóa nhòa ranh giới giữa thư viện và cơ quan thông tin Hoạt động thư viện va hoạt động thông tin có mối quan hệ khăng khít, đan xen, tương tác hữu cơ với nhau và trở thành khái niệm chung “hoạt động thông tin - thư viện”. Tiếp cận từ góc độ thông tỉn tư liệu thì hoạt động TT-TV chính là khái niệm hoạt động thông tin khoa học, được trình bày trong Nghị định số 159/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31/8/2004 về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ. Đó là hoạt động nghiệp vụ về tìm kiếm, thu thập, xử lý, lưu trữ và phổ biến thông tin.
Những hoạt động này chính là sự cụ thể hóa chức năng và nhiệm vụ về chuyên môn nghiệp vụ được giao cho cơ quan thư viện hoặc trung tâm TT-TV. Theo TCVN 10274: 2013: Hoạt động thư viện là công việc nghiệp vụ do thư viện tiến hành, bao gồm: thu thập, xử lý, bảo quản và tổ chức sử dụng chung tài liệu trong xã hội. Tác giả Trần Thị Minh Nguyệt đã tổng hợp đưa ra khái niệm “Hoạt động thông tin - thư viện là tổng hợp các quá trình thu thập, xử lý, lưu trữ, bảo quản và phổ biến thông tin theo một quy trình, quy tắc nghiệp vụ thông tin - thư viện nhằm phục vụ cho hoạt động, nhu cầu khác nhau của con người” [21] Đây là xu hướng tất yếu bởi quá trình hiện đại hóa các hoạt động thư viện đã làm thay đổi cơ bản vai trò của các thư viện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng tăng 14 cường chức năng phục vụ và phô biến thông tin của các thư viện hiện đại. Đó cũng là lý do vì sao hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đều coi sự nghiệp thư viện là mội phận cầu thành không thẻ tách rời của chính sách thông tin quốc gia.
Các yếu tô tác động đến hoạt động thông tin - thư viện s* Cơ chế chính sách Cơ chế chính sách là một trong những yếu tố quyết định đến mọi hoạt động của đời sống xã hội. Trên cơ sở hệ thông chính sách, các cơ quan, tổ chức điều chỉnh hoạt động của mình cho phù hợp quy định. Đối với hoạt động thư viện, chính sách của cơ quan chủ quản hay nói cách khác là sự nhận thức, quan tâm của cán bộ lãnh đạo đối với hoạt động thư viện có vai trỏ quan trọng. Nếu như ban lãnh đạo quan tâm, đánh giá đúng vai trò của thư viện sẽ có cơ chế hoạt động, chính sách đầu tư kinh phí, bó trí nhân lực phù hợp, kiện toàn tổ chức đáp ứng được yêu cầu phát triển của thư viện, thúc đây hoạt động thư viện phát triển.
Bên cạnh đó, để tổ chức tốt hoạt động, cơ quan thông tin thư viện cần nắm vững những, văn bản, quy định liên quan đến các mặt hoạt động, từ đó có các giải pháp hoàn thiện tổ chức hoạt động của đơn vị mình s* Ứng dụng công nghệ thông tin Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin hiện nay đã và đang tác động mạnh mẽ tới hoạt động TT-TV. Đây là một trong những yếu tố có ảnh hưởng mang tính quyết định đối với sự phát triển của ngành TT-TV Việt Nam. Những thuật ngữ hiện nay như: “thư viện điện tử”, “thư viện số”, “thư viện ảo , “cơ sở dữ liệu”. đã dẫn trở nên quen thuộc với cán bộ làm công tác TT-TV.
Ngày nay, có lẽ khó có thể hình dung được hoạt động TT-TV có thể tách rời việc sử dụng máy tính điện tử, kết nối mạng nội bộ, mạng internet, khai thác CSDL trực tuyến. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các khâu của hoạt động thư viện đã làm thay đổi về hình thức lưu trữ và cách tìm kiếm thông tin. Khai thác thông tin qua máy tính, khả năng truy cập thông tin qua các CSDL trở nên đa dạng với nhiều điểm truy cập khác nhau, phong phú hơn nhiều so với các bộ máy tra cứu truyền thống. Ngoài việc tìm kiếm tài liệu trên các CSDL nội sinh tại các đơn vị thì việc tìm tin còn được thực hiện thông qua khai thác mạng 15 máy tính tới nhiều CSDL của các đơn vị khác dưới nhiều hình thức như CSDL thư mục, CSDL dữ kiện và CSDL toàn văn.
Với sự phát triển này cũng đã cho ra đời ngày càng nhiều các vật mang tin điện tử như: đĩa từ, đĩa quang, băng từ. giúp giảm tải các kho chứa tài liệu đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao và phân phối thông tin. Sự gia tăng số lượng lớn, trong thời gian ngắn các nguồn tin điện tử đã làm thay đổi nhanh chóng hoạt động TT-TV cả về lượng và về chất. s* Nguôn nhân lực Nguồn nhân lực thư viện là một trong các yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của hoạt động TT-TV.
Tuy nhiên, trong mỗi thời đại yêu cầu về nguồn nhân lực có khác nhau. Cán bộ thư viện ngày nay không còn thụ động mà hoàn toàn có thể chủ động cung cắp thông tin tới NDT để giới thiệu, tư vấn, hướng dẫn, giải đáp mọi thắc mắc của NDT. Mỗi cán bộ thư viện phải luôn trau dồi, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ và tin học. Bên cạnh đó, người cán bộ thư viện phải luôn có ý thức động viên, khuyến khích thói quen và hứng thú đọc sách cho NDT.
Cùng với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, bên cạnh các thư viện truyền thống đã xuất các thư viện hiện đại như: thư viện dié tử, thư viện số, thư viện ảo. với các sản phẩm và các dịch vụ thông tin đa dạng. Đặc biệt là Internet đã, đang ngày càng thâm nhập sâu vào hoạt động TT-TV, trở thành công cụ không thẻ thiếu đối với công tác này. Vì vậy, trước yêu cầu hội nhập đòi hỏi cán bộ thư viện cần có các kỹ năng nhất định như: Có năng lực chuyên môn; có khả năng giao tiếp với NDT; có khả năng ngoại ngữ và có kiến thức vững về tin học, công nghệ thông tin, biết sử dụng các phương tiện hiện đại trong hoạt động thư viện * Nguôn lực thông tin Nguồn lực thông tin là một trong bón yếu tố cấu thành cơ quan thông tin thư viện (Nguồn lực thông tin, cơ sở vật chất kỹ thuật, cán bộ thư viện, người dùng tin) Đối với mỗi cơ quan TT-TV, nguồn lực thông tin là yếu tố quan trọng cấu thành nên mọi hoạt động của các cơ quan TT-TV, là cơ sở để phát triển các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin của NDT.
Hiện nay, khi công nghệ thông tin và truyền thông phát triển, chúng ta 16 đã vượt qua được rào cản về không gian và thời gian trong nhiều lĩnh vực, trong đó có hoạt động TT-TV.