Đặt vấn đề Hiện nay, các loài nam nói chung và nam bào ngư (Pleurotus spp.) nói riêng từ lâu đang dần trở thành một trong những thực phẩm ưa thích không thẻ thiếu trong mỗi bữa ăn của con người. Với sự đa dạng về hình dáng, màu sắc khác nhau, thành phần dinh dưỡng (vitamin, chất khoáng, protein.) nam bào ngư đang dần chứng minh giá trị về sức tiêu thụ cả thị trường trong và ngoài nước. Không chỉ đa dạng về màu sắc, hình dạng, chi nam Pleurotus còn thu hút con người bởi sự đa dạng về chủng loài khác nhau như: nam bao ngư xám (Pleurotus ostreatus), nam bao ngu rua (Pleurotus cystidiosus), nam bào ngư đuôi phượng (Pleurotus pulmonarius). Ở Việt Nam, có tiềm năng lớn để sản xuất nấm ăn và nam dược liệu do có nguồn nguyên liệu trồng nắm phong phú, nguồn lao động đồi dào, điều kiện thời tiết thuận lợi cho phát triển nhiều chủng loại nam và có thé trồng nam quanh năm.
Các loài nấm này không chỉ có giá trị dinh dưỡng cao mà còn chứa nhiều thành phần có tác dụng dược liệu cao. Đặc biệt phải kế đến nấm bào ngư Pleurotus spp. hay còn gọi là nam sò là một trong những giống nam được nuôi trồng quan trọng nhất trên thế giới. Một số nghiên cứu cho thấy trong nấm Pleurotus có chứa hàm lượng lovastatin được đưa vào sử dụng như một loại thuốc dé điều trị các bệnh liên quan đến tim mạch, ung thư.
Lovastatin là chất ức chế enzyme HMG — CoA (Hydroxymethylglutaryl coenzyme A reductase), làm hạ lượng cholesterol trong máu giúp ngăn chặn bệnh lý xơ vữa động mạch. Lovastatin được tim thấy đầu tiên vào năm 1979 trên vi nấm thuộc chủng Aspergillus terreus và đã được đưa vào nghiên cứu dé sản xuất lovastatin. Ở Việt Nam, nam lớn đa số được dùng làm thực phẩm nên các nghiên cứu chỉ chú trọng đến điều kiện, kỹ thuật nuôi trồng mà chưa có nhiều báo cáo đánh giá về tác dụng của các hoạt chất sinh học có trong nắm ăn đặc biệt là nắm bào ngư. Ngoài giá trị dinh dưỡng, nam bào ngư còn có nhiều đặc tính dược lý có kha năng hỗ trợ điều trị một số bệnh.
Với mục đích khảo sát để phát hiện hoạt chất lovastatin có giá trị được liệu trên nấm bào ngư nên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Khảo sát hoạt chất lovastatin và tối ưu hóa phản ứng PCR dé phát hiện các gene trong hệ gene sinh tổng hợp lovastatin trong một số chủng nam bào ngư (Pleurotus spp.)” dé hướng tới nghiên cứu các sản phẩm hỗ trợ phòng chống một số bệnh có nguồn gốc từ nắm bào ngư và có thé lai tạo thêm được nhiều chủng nam bào ngư mới mang lại giá trị được liệu cao. Mục tiêu đề tài Phát hiện hoạt chất lovastatin, tối ưu hóa phản ứng PCR khảo sát tìm ra nguồn vật liệu có chứa hệ gene sinh tổng hợp lovastatin trong một số chủng nấm bào ngư (Pleurotus spp. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Phát hiện hoạt chất lovastatin bằng phương pháp sắc ký lỏng ghép khối phổ siêu hiệu năng (UPLC-MS/MS) trong một số chủng nam bào ngư (Pleurotus spp. Nội dung 2: Tối ưu hóa thiết kế primer, nồng độ primer và nhiệt độ bắt cặp trong phản ứng PCR dé khảo sát hệ gene sinh tổng hợp lovastatin của một số chủng nam bao ngư (Pleurotus spp.
TONG QUAN TÀI LIEU 2. Tống quan về nam bao ngu (Pleurotus spp. Giới thiệu về nắm bao ngư (Pleurotus spp.) Nấm bảo ngư gồm nhiều loài thuộc Chi Pleurotus,c6 tên khoa học là Pleurotus spp. Theo chữ Hy Lạp Pleurotus có nghĩa mang một bên (Pleuron — bên cạnh) và mũ nam có hình dang như vỏ sò (ostes— lỗ tai).
Do có hình dạng giống vỏ sò nên nam bao ngư còn được gọi là nam sò. Chi Pleurotus có tới 39 loài khác nhau về màu sắc, hình dạng như nấm bào ngư xám (P. sajor— cajM) hay (Pleurotus ostreatus), bào ngư trắng (P. Pleurotus salmoneo - tramineus (Nam bào ngư hông) Pleurotus citrinopileatus Pleurotus pulmonarius (Nam bao ngu hoang kim) (Nam bao ngu xam) Hình 2.
Một số loài nam thuộc chi Pleurotus spp. (Nguon: Viện công nghệ sinh hoc ung dung) Phan lớn chúng là nam ăn và được nuôi trồng thương mai. Chi Pleurotus có số lượng nam trồng lớn nhất, chiếm 25 % tổng sản lượng nam trồng trên thế giới và nhiều dạng do quá trình lai tạo. Theo Phạm Thành Hỗ (2022), trong hệ thống phân loại Pleurotus thuộc nhóm sau: Giới (Regnum) : Nấm (Fungi) Ngành (Phylum) : Nấm đảm (Basidiomycota) Lớp (Class) : Nam tản (Agaricomycetes) Bộ (Ordo) : Nấm tản (Agaricales) Họ (Familia) : Nấm sò (Pleurotaceae) Chi (Genus) : Nam sò (Pleurotus) Nam bao ngư (Pleurotus) được trồng nhiều ở các nước Châu Âu, Châu Á và các nước nhiệt đới, trong đó có Việt Nam.
Trước đây, nắm bào ngư chủ yếu mọc hoang dại và được gọi với nhiều tên tùy theo vùng miễn: miền Bắc gọi là nấm chân dai (nam hương trang), nam sò, còn nấm dai thường được gọi phd biếnở miền Nam (Nguyễn Lân Hùng, 2005). Theo Phạm Thành Hỗ (2022), nam bào ngư được khuyến khích trồng nhiều ở các nước đang phát triển nhằm tạo nguồn thực phẩm bổ sung, đồng thời xử lý các phế liệu nông lâm nghiệp dé tránh ô nhiễm, lại làm giàu chất hữu cơ cho đất. Do có nhiều ưu thé nên nấm bào ngư được nghiên cứu nhiều hon nam rơm. Ở miền Nam khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 2 khí hậu lạnh hơn nam bào ngư mọc tốt cho năng suất cao.
Nam bào ngư được khuyến khích trồng ở các nước đang có nền kinh tế phát triển nhằm cung cấp nguồn thức ăn chứa protein thực vật. Việc nuôi trồng nắm bào ngư giúp ích cho việc tận dụng các chất thải nông nghiệp làm nguyên liệu nuôi trồng, giải quyết tình trạng gây 6 nhiễm và góp phần cung cấp cho đất nguồn ni tơ hữu cơ tốt cho sự phát triển của hệ vi sinh vật (Nguyễn Hữu Hỷ và ctv, 2015). Chu trình sống và quá trình phát triển của nam Pleurotus spp. Nam bào ngư Pleurotus thuộc ngành Basidiomycota, vậy nên vòng đời của các loài thuộc chi Pleurotus cơ bản có các giai đoạn chính tương tự như vòng đời chung của ngành Basidiomycota.
Chu trình sống của nam đảm Basidiomycota gồm có hai pha chính: pha đơn bội (monokaryon) và pha song nhân (dikaryon). Trong suốt vòng đời của ngành Basidiomycota trải qua chín giai đoạn (Hình 2.3) bao gồm: (1) Bào tử nảy mầm (Germination) (2) Hình thành các sợi nấm đồng nhân (Homokaryotic mycelia) (3) Hai sợi đồng nhân dung hợp nguyên sinh chất (Plasmogamy) (4) Hình thành sợi nam song di nhân (Heterokaryotic dikaryon) (5) Hình thành quả thé (Fruit body) (6) Hình thành đảm ở tai nắm trưởng thành (Basidia) (7) Dung hợp nhân (Karyogamy) (8) Quá trình giảm phân (Meiosis) (9) Hình thành 4 bào tử dam (Basidiospores) 6 Sonate AL= [he eK£*7ƒ 5 kh ay F.xX “xu Ya,sien 2. Homokaryotic — Mycelio — Pha don bội đồng nhân (Homokaryotic haploid phase) =—— Pha song di nhân (Heterokarvotic dikaryotic phase) —mmmms Pha lưỡng bội (Diploid phase) ----- Chu ky v6 tinh (Asexual cycle) == Chu ky v6 tinh (Asexual cycle) Hình 2. Vong đời co bản của các loài thuộc chi Basidiomycota.
(Cao Ngọc Kim Thoa, 2021) Vòng đời của loài thuộc Basidiomycota bắt đầu từ pha đơn bội có các bào tử đảm nảy mầm tạo thành các sợi nắm đồng nhân (các sợi này giống nhau về mặt đi truyền), trong mỗi khoang của sợi nấm sẽ chỉ chứa một nhân. Các sợi nam này có thể nhân lên độc lập nhờ chu trình sinh sản vô tính (Asexual cycle) hoặc có thé dung hợp vách tế bào và nguyên sinh chất (còn gọi là plasmogamy). Khi hai sợi đồng nhân có kiểu đi truyền tương hợp nhau tiếp xúc nhau thì dan đến sự dung hợp vách tế bao và nguyên sinh chất. Sau khi dung hợp, các nhân sẽ di chuyển và bắt cặp với nhau tạo thành sợi nam song di nhân với mỗi khoang của sợi nấm chứa hai nhân khác nhau từ đây bước vào pha song nhân.
Ở hệ sợi song dị nhân, các sợi nắm cũng có thể nhân lên độc lập nhờ chu trình sinh sản vô tính hoặc tiếp tục phát triển hình thành quả thể. Khi tai nam trưởng thành, chỉ tại một số tế bào đặc biệt nằm ở lớp ngoài cùng, gọi là đảm, sự dung hợp hai nhân mới xảy ra và kết quả làm các tế bào đảm từ dạng song nhân chuyển sang dạng lưỡng bội (diploid). Đảm lưỡng bội trải qua quá trình giảm phân tạo ra bốn bào tử đơn nhân mới. Các đơn nhân này sẽ di chuyển vào trong các bào tử đảm nằm trên cuống đảm.
Kết thúc vòng đời, các bào tử hoàn chỉnh được phát tán vào môi trường (Cao Ngọc Kim Thoa, 2021). Ở các giai đoạn hệ sợi đồng nhân và hệ sợi song dị nhân, các sợi nam đồng nhân và song di nhân có thé trải qua hoặc không trải qua chu kỳ sinh san vô tinh bằng cách tạo ra các bào tử vô tính — oidia (bào tử vách mỏng) hoặc chlamydospores (bao tử vách dày). Nếu bao tử vô tinh là đơn nhân thì sẽ tái tao lại sợi nam đồng nhân bố mẹ. Nếu bào tử vô tính là song nhân thì sẽ hình thành lại sợi nấm song dị nhân.
Giá trị dinh dưỡng và được tính của nấm bào ngư (Pleurotus spp.) Nam bào ngư cung cấp đạm thực vật tốt cho cơ thé, kha năng tiêu hóa của nam đạt 90 % có thé so sánh với thịt do hàm lượng protein có trong nam khô chiếm từ 10 - 40 % tùy loài (Patel, 2012; Maftoun và ctv, 2013). Theo Nguyễn Lân Dũng (2003), nắm bảo ngư là thực phẩm ăn ngon và có nhiều giá trị đỉnh dưỡng cao do trong nam có nhiều acid amin thiết yếu va các vitamin nhóm B như BI, B2, B5 (Niacin), B6 va vitamin nhóm C. Nam chứa 20 — 25 % protein (trọng lượng khô), béo thấp va 8 loại acid amin thiết yếu như Glutamic, Valin, Isoleucine, Leucin, Methionine, Phenylalanine, Threonine, Tyrosine (Nguyễn Lan Dũng, 2003). Ngày nay, các nghiên cứu về các chất có hoạt tính sinh học trong nam bao ngư càng được quan tâm nhiêu hơn, cụ thê là đã có nhiêu công trình nghiên cứu chỉ ra các dược tính của nấm bào ngư ví dụ như khả năng kháng ung thư, kháng khối u, kháng viêm khớp.
Về mặt y học, nam ăn cũng có những đặc tính khác như phòng ngừa và chữa bệnh nhờ vào các hoạt chất chống nấm, kháng độc tố, chất chống oxy hóa. Nắm còn giúp hạ huyết áp, tăng sự miễn dịch của cơ thé, chéng béo phì, giảm mỡ máu, ức chế khối u và cũng tốt cho bệnh nhân tiêu đường. Các thành phần hoạt tính sinh học trong nam gồm các hợp chất có trọng lượng phan tử cao (polysaccharide, peptide và protein) và trọng lượng phân tử thấp (terpenoid, este axit béo và polyphenol).