Đặt vấn đề Nắm được sử dụng rộng rãi từ thời cô đại, không chỉ làm thực phẩm hoặc nguyên liệu tạo hương vị thực phẩm bởi nam có độ dai, giòn riêng biệt của mỗi loài, kích thích vị giác nên giúp người ăn ngon miệng hơn, mà nam còn cho mục đích y học hoặc chức năng, vì hương vị và kết cau đặc biệt của chúng. Nam tươi chứa khoảng 85 - 90 % độ am, 3 % protein, 4 % carbohydrate, 0,3 - 0, 4% chất béo và 1 % khoáng chất và vitamin cũng như một số đặc tính chữa bệnh như giảm mức cholesterol trong máu, chống ung thư và chống oxy hóa. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng trong nấm Pleurofus có chứa hợp chất statin, đặc biệt là lovastatin - một loại thuốc được phép lưu hành trên thị trường giúp làm giảm cholesterol trong máu và giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, nhưng qua quá trình tiến hóa và yếu tố ảnh hưởng từ môi trường thì hợp chất này dần dan mắt đi. Điều này làm chúng ta nghi ngờ về việc khi sử dụng nam Pleurotus spp.
thì lượng lovastatin có tồn tại trong nam ăn hay không đó là ân số. Việc tiến hành nghiên cứu này sẽ khảo sát hệ gene sinh tổng hợp lovastatin và hàm lượng lovastatin của một số chủng nắm bào ngư (Pleurofus spp.) có tồn tại trong nam hay không thông qua các phương pháp sắc khí lỏng ghép khối phổ siêu hiệu năng (UPLC-MS/MS) và kỹ thuật PCR để xác định hệ gene sinh tổng hợp lovastatin và hàm lượng lovastatin có trong nam một số chủng nam bào ngư Pleurotus spp. Mục tiêu đề tài Xác định hàm lượng lovastatin và khảo sát tìm ra nguồn vật liệu có chứa hệ gene sinh tong hop lovastatin trong một số chủng nắm bào ngư (P/eurotus spp. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Khảo sát hàm lượng lovastatin trong một số chủng nắm bào ngư bằng phương pháp sắc ký long ghép khối phổ siêu hiệu năng UPLC-MS/MS.
Nội dung 2: Kiểm tra hệ gene sinh tổng hợp lovastatin trong một số chủng nam bào ngư bằng phương pháp PCR. Nội dung 3: So sánh tương quan giữa hàm lượng của lovastatin và hệ gene sinh tổng hợp lovastatin trong một số giống nắm bào ngư. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Giới thiệu chung 2.
Giới thiệu về nắm Pleurotus spp. Các loài Pleurotus là loại nam thiết yếu về mặt thương mại và được trồng rộng rãi trên khắp thé giới. Chỉ riêng việc sản xuất nam Pleurotus đã chiếm khoảng 25% tổng số nam được trồng trên toàn cầu. Ở Mỹ và Châu Au, loài Pleurotus được coi là loại nam ăn có hương vị ngon và độ giòn ngọt.
Trong khi ở Hàn Quốc, việc trồng chúng mang lại lợi nhuận kinh tế và là một trong những loài được tiêu thụ nhiều. Các loài Pleurotus chủ yêu được tìm thay ở các khu rừng nhiệt đới và ôn đới và thường mọc trên các cành cây đồ, gốc cây chết mục nát và các khúc gỗ âm ướt. Nam Pleurotus được coi là tốt cho sức khỏe vì giàu protein, chất xơ, vitamin và khoáng chất. Nam Pleurotus được tiêu thụ như một loại thực phẩm chức năng vì chúng có hương vị và mùi thom hap dan, giá trị dinh dưỡng và dược liệu.
Loài Pleurotus là loại nam ăn được có giá trị thương mại quan trọng và được trồng trên toàn cầu. Nam Pleurotus có hình vỏ sò hoặc vỏ sò với nhiều màu sắc khác nhau như trắng, kem, xám, vàng, hồng hoặc nâu nhạt. Nam Pleurotus còn được gọi là nam bao ngư hay còn được gọi là nâm sò. Phân loại : Giới (Regnum) : Nấm (Fungi) Ngành (Phylum) : Nắm đảm (Basidiomycota) Lớp (Class) : Nam tản (Agaricomycetes) Bộ (Ordo) : Nam tan (Agaricales) Ho (Familia) : Nam sò (Pleurotaceae) Chi (Genus) : Nam sò (Pleurotus) Có hơn 30 loài nam thuộc chi Pleurotus, da số chúng thuộc loại nam ăn và được trồng thương mại.
Trong đó, nam Pleurotus là loại nam ăn được trồng nhiều chiếm 25% tổng sản lượng nắm trồng trên thế giới. Với đặc điểm dễ trồng, phù hợp với điều kiện sống môi trường và khí hậu nên đây là loại nam có nhiều hình dang khác nhau do quá trình lai tạo (Phạm Thành Hồ, 2022). Nghiên cứu sâu rộng về các thuộc tính dinh dưỡng và dược liệu của loài Pleurofus đã được nhiều nhà nghiên cứu nghiên. Sự hiện diện của mevinolin, axIt nicotinic và hàm lượng hợp chất B-glucans cao hon 6 Jodi Pleurotus đã được chứng minh thành công là thực phẩm bé sung cho bệnh nhân tim nhằm giảm mức cholesterol trong máu.
Đặc điểm hình thái và sinh học Nam Pleurotus spp. có dạng hình phiếu lệch, mũ nắm xòe, chóp nắm lõm nhẹ, dưới mũ nam có lớp tơ mỏng. Nam Pleurotus mọc chủ yêu thành cụm it mọc đơn lẻ. Quả thé khá to đường kính trung bình từ 2 — 4 cm trơn bóng, mau từ xám đến trắng xám, thịt nam màu trắng dày, cuống mọc xiên màu trắng hoặc gan trang, dày từ 2 — 6 cm.
Đến giai đoạn trưởng thành nam Pleurotus spp. sẽ phát tán bao tử, nhờ gió bao tử bay đi khắp mọi nơi, khi gặp điều kiện thích hợp sẽ hình thành sợi nấm và phát triển thành quả thé nam. Hình dạng Pleurotus cystidiosus. ( Hussain, 2015) (A)(B) Basidiomata trên Morus alba, (C) Pleurocystidia, (D) Thân quả, (E) basidiospores, (F) Basidia, (G) Heilocystidia,(H) sợi nam có gai.
Trong tu nhién, nam P. cystidiosus thường được mọc trên các than cây khô, trong môi trường nuôi trồng nông nghiệp nam P. cystidiosus được trồng trên rơm, ba mía, mun cưa cao su,. Thường là trên những cây đã chết, hoặc trên những khúc gỗ đã dé.
Các chất nền khác nhau có chứa lignin va cellulose có thé được sử dụng để canh tác khi trồng, chang hạn như dam gỗ, lúa mì ngô, rơm ra, thân cây bông, vỏ phê thai và các chat thải nông nghiệp, tuy nhiên nắm P. cystidiosus sẽ không trên gỗ lá kim. cystidiosus không thé hình thành qua thé ở nhiệt độ thấp hơn 16 °C và cao hon 32°C. Nhiệt độ tối ưu cho sự hình thành quả thể và năng suất đã được tìm thấy ở 26 °C.
Ở nhiệt độ này, qua thé xuất hiện sau 60 đến 70 ngày ké từ khi sinh sản va nam P. cystidiosus có thời gian bao quan lâu nhất trong số tat cả các loài Pleurotus ( Zervakis và ctv, 1992) ) ms, °§Lo] Lo} Meiosis Spores n n ` Karyogamy \ © SS Germination 47 Gy 3n F >> ~~ Hyphal anastomosis n+n Ry 2S) v“ Hình 2. Chu trình sinh trưởng của nam Pleurotus spp. (Anupam Barh, 2019) Nam Pleurotus là một loại homobasidiomycete dị thé.
Việc giao phối có kiểm soát bởi sự di truyền tứ cực hai yêu tố. Vòng đời của nam được bat đầu bang sự nảy mam của bao tử đảm đơn bội. Các bào tử đảm nảy mam sẽ phát triển thành sợi nam đơn bội. Hai sợi nắm đơn bội tương thích hợp nhất (anastomosis) và tạo thành sợi nắm hai nhân có hai nhân không hợp nhất.
Karyogamy, tức là sự hợp nhất của hai nhân đơn bội, xảy ra ở basidium trong thể quả (basidiocarp). Điều này tạo ra bốn bào tử đảm đơn bội, chúng lại bước vào cùng một chu kỳ. Giá trị dinh dưỡng Nắm được đánh giá cao về thành phần gần giống và đặc tính dinh dưỡng và được coi là có 28,6 — 15,4 % protein, 84,1-61,3 % carbohydrate và 3 — 33,3 % chất xơ. Hàm lượng protein của chúng cao hon so với rau, nhưng it hon so với thịt và sữa.
Các loài Pleurotus là nguồn giàu protein và khoáng chất (Na, Ca, P, Fe và K) và vitamin (Phức hợp Vitamin C và B). Ngoài ra, vị umami đậm đà trong nam Pleurotus có thé làm tăng chat lượng thực phẩm. Tỷ lệ đáng ké của carbohydrate bao gồm chat xơ, rất giàu chất xơ (6 ~ 28 %), đặc biệt là ở cuống mà con người không thé dé dang tiêu hóa và hoạt động cơ bản như chất xơ. Chúng chứa tất cả các axit amin thiết yếu, hạn chế các axit amin chứa lưu huỳnh, cysteine va methionine.
Mặc dù chúng cũng chứa các lipid chính, bao gồm axit béo tự do, mono, di và triglycerid, este sterol và phospholipid. Nam Pleurotus được coi là thực phẩm chức năng vi giá trị thực phẩm cao hơn, chủ yếu là do hàm lượng protein và chất béo, carbohydrate, khoáng chất và vitamin cao. Các thành phan hoạt động được tìm thay trong nắm Pleurotus là polysaccharides, chất xo, oligosaccharides, triterpenoid, peptide, protein, alcohol và phenol, và các nguyên tố khoáng như kẽm, đồng, iot, selen và sắt, vitamin va axit amin. Những chat này đã được chứng minh là có tác dụng tăng cường hệ thống miễn dịch, có đặc tính chống ung thư và hoạt động như các đặc tính chống tăng cholesterol máu và bảo vệ gan.
Loài Pleurotus là thực phẩm có lợi cho những người bị tăng huyết áp và các bệnh tim mạch do hàm lượng kali va natri cao. Dược tính của nắm Pleurotus spp. Một số nhóm nghiên cứu đã mô tả tác dụng dược lý của cả quả thé và chiết xuất sợi nam của nam Pleurotus spp. Việc xem xét hiện tại đề xuất rằng không chi nắm basidiomata cũng như sợi nắm của chúng nên được khám phá như một nguồn tài nguyên tuyệt vời có thé tái tạo va dé tiếp cận dé phát triển thực phẩm chức năng, dinh dưỡng và thậm chí ca dược phẩm có tác dụng chống oxy hóa, kháng khuẩn, chống viêm, chống ung thư và điều hòa miễn dịch.
Vào năm 2018, Pandey đã công bố kết quả nghiên cứu khả năng sinh tổng hợp lovastatin của các nam đảm lớn ở An Độ. Kết quả của nghiên cứu ghi nhận trong 40 loại nấm được lựa chọn thì các chủng P/eurofus (bao gồm P. cystidiousus) đều tao lovastatin. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rang các hợp chat chống oxy hóa đóng vai trò quan trọng trong việc phòng chống ung thư (Hou, 2003).
Trong nghiên cứu này, ?. cystidiosus phân đoạn A4-2 và A4-3 đã thé hiện các hoạt động chống oxy hóa và chống tăng sinh cao.cystidiosus có tiềm năng như một tác nhân chống ung thư (Menikpurage va ctv, 2012). Khai niém: Statin là một nhóm dược chất rất thành công trong việc lam giảm mức cholesterol trong máu, giảm nguy cơ bị sức khỏe tấn công hoặc đột quy. Nhóm statin bao gôm: lovastatin, mevastatin, atorvastatin, pravastatin, rosuvastatin, fluvastatin va simvastatin.
Trong những năm gần đây, statin cũng đã được báo cáo là có các hoạt tính sinh học khác và nhiều công dụng điều trị tiềm năng. Lovastatin là một loại thuốc thuộc nhóm statin được sử dụng để làm hạ cholesterol, điều trị rối loạn lipid máu, giúp làm giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quy, bệnh Alzheimer và các bệnh về xương. Lovastatin là hoạt chất có trong các sản phẩm men gạo đỏ, được dùng làm chất bổ sung vào chế độ ăn uống. Trong các sản pham như vay, lovastatin chủ yếu được gọi là monakolin K và kèm thêm 13 monacolin tự nhiên có trong men gạo đỏ.