Đặt vấn đề Ngành sản xuất nắm ăn đã hình thành và phát triển trên thé giới từ hàng trăm năm. Hiện nay có khoảng 2.000 loài nắm ăn được, trong đó có 80 loài nam ăn ngon và được nghiên cứu nuôi trồng nhân tạo. Ở Việt Nam việc nuôi trồng nam đang dan phát triển với nhiều loại nam trồng phổ biến như nam rơm, nắm kim châm, nam hương, nam bao ngư, nắm linh chi,. Sản lượng nắm hàng năm ở nước ta khoảng 250.
000 tan, trong đó riêng nắm bào ngư chiếm 60. Tuy nhiên, phần lớn mọi người tiêu thụ nắm lớn là vi giá trị dinh dưỡng và các đặc tính đặc trưng của nấm như: độ dai, giòn, ngọt, có mùi vị thơm ngon, dễ chế biến. mà ít quan tâm đến các hoạt chất sinh học có trong nam đặc biệt là nam bao ngư xám (Pleurotus ostreatus), cũng vi thế mà chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá về được tính điều trị bệnh của các hoạt chất sinh học có trong nam bao ngu xam. Lovastatin, bao gồm các chất chuyên hóa thứ cấp được sản xuất bởi nam soi, là loại thuốc được sử dụng dé điều trị chứng tăng cholesterol trong máu do lovastatin là chất ức chế cạnh tranh men khử HMG-CoA.
Hơn nữa, các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra một số ứng dụng quan trọng của lovastatin như: chất chống vi trùng, điều trị bệnh ung thư va các bệnh về xương (Mulder va ctv, 2015). Năm 1979, lovastatin được tìm thấy đầu tiên trên vi nắm thuộc chủng Aspergillus terreus. Với mục đích xác định được loại dung môi có khả năng tách chiết hợp chất lovastatin tối ưu nhất và tìm được chủng nắm bào ngư xám chứa hoạt chất sinh học có giá trị dược liệu trong điều trị bệnh nên ta tiến hành thực hiện đề tài “Khao sát một số dung môi phục vụ việc định tính lovastatin và khảo sát hệ gene sinh tổng hợp lovastatin có trong một số chủng nam bào ngư xám (Pleurotus ostreatus)”. Mục tiêu đề tài Tìm được loại dung môi cho hiệu quả chiết xuất hợp chất lovastatin tối ưu nhất và phát hiện được hệ gene sinh tổng hợp lovastatin có trong các chủng nam bào ngư xám (Pleurotus ostreatus).
Nội dung thực hiện Nội dung 1: Khảo sát một số loại dung môi phục vụ việc tách chiết lovastatin tối ưu nhất có trong chủng nam bào ngư xám (Pleurotus ostreatus). Nội dung 2: Định tính hoạt chất lovastatin có trong chủng nắm bào ngư xám. Nội dung 3: Khảo sát hệ gene sinh tổng hợp lovastatin có trong chủng nam bao ngư xám. TONG QUAN TÀI LIEU 2.
Tống quan về nam Pleurotus spp. Giới thiệu về nắm Pleurotus spp. Có hơn 30 loài nam thuộc chi Pleurotus, đa số chúng thuộc loại nam ăn và được trồng thương mại. Trong đó, nam Pleurotus là loại nam ăn được trồng nhiều chiếm 25% tong sản lượng nam trồng trên thế giới.
Với đặc điểm dé trồng, phù hợp với điều kiện sông môi trường và khí hậu nên đây là loại nấm có nhiều hình dang khác nhau do quá trình lai tao (Phạm Thành Hồ, 2022). Nam Pleurotus spp. được phân bố rộng khắp trên thế giới, đầu tiên nó được trồng ở châu Âu trên 20, sau đó là trên mun cưa, cùi bắp, rơm ra. Một số loại nam Pleurotus spp.
được trồng ở vùng ôn đới, ở Việt Nam chúng mọc tốt ở điều kiện nhiệt độ 28 - 30°C. Hiện nay, nam Pleurotus cũng được trồng ở nhiều nước trên thế giới, chau A, châu Âu và các nước nhiệt đới, đặc biệt nó được khuyến khích trồng ở các nước đang phát triển nhằm dé bổ sung nguồn thực phẩm, xử lý các phế phẩm nông lâm nghiệp dé tránh 6 nhiễm, mặc khác còn giúp bổ sung cho đất có hàm lượng chất hữu cơ cao. Ở miền Nam thời điểm khoảng từ tháng 11 đến tháng 2 khí hậu lạnh hơn thích hợp cho việc trồng nam Pleurotus với khả năng mọc tốt va sinh trưởng tốt cho năng suất cao. Do chứa nhiều ưu thé như trong việc trồng nam sử dụng nhiều phê liệu như mun cưa, rơm ra, cùi bap, bã mía ké cả gỗ, với nguyên liệu chế biến đơn giản dé làm, thu được san lượng cao, cứ bình quân 1 tạ rơm khô sẽ thu được 30 - 40 kg nam tươi, nếu trồng VỚI quy mô kỹ thuật tốt có thé đạt đến 70 - 80 kg nam tươi (Phạm Thành Hồ va ctv, 2022).
Nam Pleurotus spp. được các nhà khoa học đánh giá là một trong những loại nam có nhiều hoạt tinh sinh hoc vì chứa hop chat statin, đặc biệt là lovastatin - một loại thuốc được phép lưu hành trên thị trường giúp làm giảm cholesterol trong máu và giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Giới thiệu về nam Pleurotus ostreatus VỊ trí phân loại: Lớp : Agaricomycetes Bộ : Agaricales Ho :Pleurotaceae Chỉ : Pleurotus Loài : Pleurotus ostreatus 2. Đặc điểm hình thái và chu trình sống của P.
ostreatus Nam bào ngư xám tên khoa học là Pleurotus ostreatus có dạng hình phiếu lệch, giống nắp sò, dai từ 5 đến 25 cm, mép mũ nam cuộn lại khi còn non và nhẫn, quả thé khá to đường kính trung bình từ 2 — 4 cm trơn bóng, mau từ xám đến trắng xám, thịt nam màu trắng dày, cuống mọc xiên, day từ 2 — 6 em. ostreatus mọc chủ yếu thành cụm, ít mọc đơn lẻ. Trong tự nhiên, nam P. ostreatus thường được moc trên các thân cây khô, trong môi trường nuôi trồng nông nghiệp nam P.
ostreatus được trồng trên rơm, ba mia, mun cưa cao su,. Thường là trên những cây đã chết, hoặc trên những khúc gỗ đã dé. Các chất nền khác nhau có chứa lignin va cellulose có thé được sử dụng để canh tác nam P. ostreatus chang hạn như dam gỗ, lúa mì ngô, rơm ra, thân cây bông, vỏ phế thải và các chất thải nông nghiệp, một số có thể được tái chế để sử dụng làm thức ăn gia súc.
Chu trình sống của nam bào ngư xám có thể được mô tả thông qua Hình 2.2 như sau: BASIDIOSPORE MONOKARYON ` ; Sporulation @ oo = : -° > e = > e ) Germination A2B2 AlB2 A/8B/ (@ @) A2Bl SS) (e) Meiosis @ (e) BASIDIUM Nuclear Fusion \ A/Ø7 A2B2 xa 2G aL ° S=_ S©S ES ®_- —= © MATING MONOKARYONS FRUIT BODY ass ‘Temperature Light _ a. T+_ ® i co _— Ð DIKARYON Hinh 2. Chu trinh sống của nam P. (Casselton, 1995) Một bao tử nam don lẻ nay mam thành một khối sợi nắm đồng nhân, mỗi tế bào chứa một nhân đơn bội.
Soi nắm đồng nhân tiếp tục phát triển cho đến khi sợi nam hợp nhất với sợi nắm khác có kiểu giao phối tương thích. Sau khi hợp nhất giữa các sợi nắm đồng nhân tương thích, sự di chuyên hạt nhân đối ung xảy ra và một sợi nam dị hạch được hình thành. Sự tăng trưởng tiếp theo liên quan đến sự phân chia đồng bộ của hai nhân trong mỗi ngăn và sự phân bố đều đặn của chúng dưới dạng cặp nhân trong toàn bộ sợi nắm thông qua các kết nối kẹp. Hệ sợi nam di hạch với đủ khối lượng sợi nam và các kích thích môi trường thích hợp (làm mát 10 - 21°C, độ âm tương đối 85 — 90 %, yêu cầu ánh sáng 1000 — 2000 lux, CO2 < 1000 ppm) có thé hình thành quả thể.
Trong quá trình hình thành quả thể, phản ứng tổng hợp hạt nhân và giảm phân chỉ xảy ra ở basidia (đảm) chuyên biệt. Mỗi nhân đơn bội di chuyên vào một bào tử basidiospores, bên ngoài basidium. Mỗi basidium thường có bốn basidiospores đơn nhân. Những bào tử này nảy mam thành sợi nam đồng nhân (homokaryotic) (OECD, 2016).
Hàm lượng dinh dưỡng và dược tinh của nam Pleurotus ostreatus P. ostreatus chứa khoảng 100 hợp chất hoạt tính sinh học khác nhau, chủ yếu được coi là một nguồn chất xơ mới tiềm năng. Trong khi đó, thành tế bào nắm rất giàu polysacarit phi tinh bột, trong đó j-glucan là thành phần chức năng thú vị nhất và các hợp chat phenolic như axit protocatechuic, axit gallic, axit homogentisic, rutin, myrictin, chrysin, naringin, tocopherol như a-tocopherol và y-tocopherol, axit ascorbic và ÿ- caroten mỗi loại đều có tác dụng chữa bệnh nổi bật riêng (Wang va ctv, 2001; Ferreira va ctv, 2009). Hon nữa, chúng là thực phẩm tốt cho sức khỏe, giàu protein, lipid, carbohydrate, vitamin và khoáng chất nhưng lại ít calo và chất béo.
Các chất dinh dưỡng đa lượng của P. ostreatus (Khan, 2010) Chât dinh dưỡng Hàm lượng (trong 100g nam khô) Protein 17 — 42 (g) Carbohydrates 37 — 48 (g) Lipids 0,5 —5 (g) Fibers 24 —31 (g) Minerals 4-10 (g) Moisture 85 — 87 (%) Năm 1994, Karacsonyi và Kuniak đã phân lập được B-D Glucan từ quả thé của P. B-D glucan màng phối đã làm tăng khả năng sống sót của những con chuột dé bị nhiễm vi khuẩn. Tuy nhiên, các thành phần phenolic và tanin được quan sát thấy của P.
ostreatus cũng có thé tạo ra hoạt tính kháng khuẩn như được tìm thấy trong nhiều cây thuốc với cơ chế hoạt động được đặc trưng bởi sự phân giải thành tế bảo, ức chế tổng hợp protein, enzyme phân giải protein và adhensin của vi khuẩn (Cowan, 1999). Năm 2007, Petrova cho rằng P. ostreatus có tác dụng ức chế quá trình phosphoryl hóa IBơ có hoạt tính sinh học liên quan đến tăng cường miễn dịch và tác nhân chống ung thư trong ống nghiệm. Tuy nhiên, điều trị P.
os/rea/zs làm giảm đáng ké sự biểu hiện của các dấu ấn sinh học liên quan đến sự tiến triển của ung thư ruột kết như cyclin DI và Ki-67. Những điều này chỉ ra rõ ràng rằng việc sử dung P. ostreatus đã ngăn chặn 2-amino-1- methyl-6-phenylimidazo [4,5-b] pyridine (PhIP) và muối dextran natri sulfat (DSS) gây ra sự hình thành khối u đại tràng liên quan đến viêm đại tràng ở chuột mà không có bat kỳ tác dụng phụ nao (Jedinak A va ctv, 2010). Chiết xuất protein của P.
ostreatus đã được chứng minh là có hiệu quả điều trị đối với dòng tế bào ung thư đại trực tràng ở người (tế bào SW 480) và đòng tế bào ung thư bạch cầu đơn nhân ở người (tế bao THP-1) bằng cách gây ra quá trình chết lập trình trong các tế bao SW 450 một phan thông qua các gốc oxy hóa hoạt động có nguồn gốc từ oxy (ROS), suy giảm Glutathione (GSH) và rối loạn chức năng ty thé (Wu va ctv, 2011). Do đó, chiết xuất protein của những loại nam này có thể được coi là nguồn quan trọng của thuốc chống ung thư mới. ANTIBACTERIAL ANTIDIABETIC ANTI-HYPER ANTIOXIDANT CHOLESTEROLIC SS u Pleurotus ostreatus ANTICANCER ANTITUMOUR IMMUNOMODULATORY Hình 2. Dược tinh cua P.
(Deepalakshmi va Mirunalini, 2014) Năm 2010, El-Fakharany đã phát hiện một loại laccase đã được tinh chế từ P. ostreatus, có khả năng ức chế sự xâm nhập của vi rút viêm gan C vào các tế bao máu ngoại vi và tế bào HepG2 của khối u gan, cũng như sự nhân lên của nó.