MỞ ĐẦU Thalassemia là bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, được đặc trưng bởi sự suy giảm hoặc mất tổng hợp chuỗi globin và là bệnh di truyền phổ biến nhất Đông Nam Á và trên thế giới [14]. Theo ước tính của Liên đoàn Thalassemia Thế giới, có khoảng 7% dân số mang gen bệnh thalassemia và hàng năm có khoảng 300.000 trẻ sinh ra bị bệnh thalassemia mức độ nặng [58]. Ở Thái Lan tỷ lệ người mang gen α-thalassemia là 14%, β-thalassemia từ 3-9%, HbE là 13%. Với 1% dân số mang gen thì hàng năm có khoảng 12.000 trẻ sinh ra mắc căn bệnh này [68].
Cũng theo ước tính trên, tại Việt Nam có khoảng 10% dân số mang gen bệnh này và mỗi năm có 20.000 đứa trẻ sinh ra bị bệnh thalassemia [16]. Người bệnh thalassemia phải điều trị thường xuyên bằng truyền máu, thải sắt và điều trị các biến chứng. Chi phí điều trị bệnh thalassemia lớn làm kinh tế gia đình suy giảm, bệnh nhân trở thành gánh nặng cho xã hội và ảnh hưởng tới chất lượng giống nòi. Hiện nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, tiến bộ của các phương pháp điều trị giúp cải thiện sức khỏe cho bệnh nhân thalassemia.
G ện nay đượ halassemia [76]. Đặc biệt số ca ghép tế bào gốc lấy nguồn từ anh/chị em ruột ngày càng tăng và cho kết quả cải thiện đáng kể trong ba thập kỷ qua [75, 76]. Việc ghép thành công tế bào gốc đòi hỏi cần phải có nguồn cho tế bào gốc hòa hợp kháng nguyên bạch cầu người (HLA-Human leukocyte antigen). Các locus thường sử dụng để xác định sự hòa hợp trong ghép tế bào gốc đồng loài bao gồm các locus quy định HLA-A, HLA-B, HLA-C, HLA-DRB1 và HLA-DQB1, trong đó yêu cầu hòa hợp HLA đối với nguồn tế bào gốc là máu dây rốn chỉ cần tối thiểu 4/6 locus HLA-A, HLA-B, HLA-DR ở độ phân giải cao [39].
Khả năng hòa hợp HLA của người nhận với người cho cùng huyết thống cao hơn so với người trong cộng đồng [75, 76]. Trong gia đình càng có nhiều ngườ ợc người cho hòa hợp ỷ lệ ghép thành công càng lớ Tuy nhiên, đối với những trường hợp bệnh nhân không có anh/chị/em ruột hòa hợp HLA để hiến tế bào gốc thì cơ hội Luận văn thạc sĩ khoa học 2015 - 2017 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lê Xuân Thịnh K24 - Sinh học điều trị ghép gần như không còn. Để giải quyết khó khăn này, nhiều trung tâm lớn trên Thế giới cũng như tại Việt Nam, Ngân hàng Tế bào gốc của Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương đã triển khai xây dựng Ngân hàng máu dây rốn cộng đồng [11]. Nguồn tế bào gốc này có một số ưu điểm nổi bật như sẵn có, thu thập dễ dàng, không ảnh hưởng đến sức khỏe của người hiến và đặc biệt là yêu cầu về hòa hợp HLA giữa người hiến và bệnh nhân không cao.
Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu xác định hòa hợp HLA giữa bệnh nhân và ngƣời hiến bằng kỹ thuật PCR-SSO để định hƣớng ghép tế bào gốc trong điều trị bệnh thalassemia” với 2 mục tiêu: 1. Xác định được HLA của bệnh nhân thalassemia và người hiến tế bào gốc bằng kỹ thuật RCR-SSO. Đánh giá được mức độ hòa hợp HLA của bệnh nhân thalassemia và người hiến để định hướng ghép tế bào gốc. Nội dung nghiên cứu gồm: ‐ Xác định HLA của bệnh nhân thalassemia có chỉ định ghép tế bào gốc và người hiến cùng huyết thống; ‐ Đánh giá mức độ hòa hợp HLA của bệnh nhân có người hiến cùng huyết thống với người hiến và của bệnh nhân không có người hiến cùng huyết thống với các đơn vị máu dây rốn cộng đồng.
Luận văn thạc sĩ khoa học 2015 - 2017 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lê Xuân Thịnh K24 - Sinh học Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Kháng nguyên hệ bạch cầu ngƣời 1. Khái niệm human leukocyte antigen HLA (Human Leucocyte Antigen) là tên gọi tắt quốc tế của kháng nguyên bạch cầu người. Việc khám phá ra phức hợp hòa hợp mô chủ yếu (Major Histocompatibility Complex - MHC) và vai trò của nó trong thải ghép, đáp ứng miễn dịch và cơ sở di truyền bệnh dẫn đến sự ra đời của một lĩnh vực khoa học mới là di truyền miễn dịch [60].
Đây là lĩnh vực quan trọng không chỉ trong nghiên cứu y sinh học cơ bản mà còn trong y học lâm sàng. Phức hợp hòa hợp mô chủ yếu ở người là hệ thống kháng nguyên bạch cầu người được quy định bởi vùng gen nằm trên cánh ngắn nhiễm sắc thể số 6 (6p21) [61, 62]. HLA lần đầu tiên được phát hiện trên bề mặt tế bào bạch cầu nhờ vai trò trong thải ghép [71]. Hiện nay khoa học đã chứng minh các protein của hệ thống gen HLA hiện diện trên bề mặt tế bào của đa số động vật có xương sống, kháng nguyên HLA tham gia vào nhiều công đoạn trong nhận diện miễn dịch bao gồm tương tác giữa các tế bào lympho khác nhau cũng như giữa các tế bào lympho với các tế bào trình diện kháng nguyên [60].
Do vậy, việc xác định các kháng nguyên HLA hay định nhóm HLA (HLA typing) còn được gọi là định nhóm mô (tissue typing) [56]. Danh pháp Theo Marsh SG và cộng sự (2010) danh pháp HLA như sau [69]: Tên gen + dấu * + mã số alen + dấu : + mã số protein HLA riêng + dấu : + mã số ADN tương ứng trong vùng mã hóa + dấu : + mã số ADN ngoài vùng mã hóa + Hậu tố: - Hậu tố N: alen không được biểu hiện (Null); - Hậu tố L: alen của protein biểu hiện ở bề mặt tế bào thấp hơn bình thường (Low); - Hậu tố S: alen của protein tan nhanh nhưng không biểu hiện trên bề mặt tế bào (Secret); Luận văn thạc sĩ khoa học 2015 - 2017 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lê Xuân Thịnh K24 - Sinh học - Hậu tố C: alen của protein ở trong tế bào chất chứ không ở bề mặt tế bào (Cytoplasm); - Hậu tố A: khi nghi ngờ protein có được biểu hiện không (Aberrant); - Hậu tố Q: alen có đột biến trước đó đã được chứng minh là có ảnh hưởng đến việc biểu hiện trên tế bào nhưng chưa được xác nhận vị trí và vẫn còn nghi vấn (Questionable). Cấu trúc tên HLA [69] Ví dụ: Khi viết alen HLA-A*11:01 thì có nghĩa là: locus HLA-A, alen 11, protetin 01. Hệ thống HLA Dựa trên cấu trúc và chức năng, các kháng nguyên HLA được chia thành hai lớp: HLA lớp I và HLA lớp II (Hình1.
Kích thước tổng thể của hệ thống gen HLA là khoảng 3,5 triệu cặp bazơ niơ [62]. Trong đó, vùng gen HLA lớp I và lớp II chiếm khoảng 1/3 mỗi loại. Phần còn lại là vùng gen HLA lớp III mã hóa bổ thể, hormon, xử lý peptide nội bào và một số chức năng khác. Do đó, vùng gen HLA lớp III không thực sự là một phần của hệ thống HLA, nhưng chúng nằm trong khu vực HLA và có liên quan đến các chức năng của kháng nguyên HLA hoặc có cơ chế kiểm soát tương tự như các gen HLA [60].
Cho tới nay, người ta đã biết khoảng 17330 alen của hệ thống HLA, các alen này tạo ra kháng nguyên và phát hiện được bằng kháng thể đặc hiệu. Luận văn thạc sĩ khoa học 2015 - 2017 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lê Xuân Thịnh K24 - Sinh học Bảng 1.1: Số alen HLA phát hiện được (2017) + Loci A có 3997 alen + Loci DR có 2395 alen + Loci B có 4859 alen + Loci DP có 942 alen + Loci C có 3605 alen + Loci DQ có 1152 alen Hệ thống HLA chia làm 3 lớp: Lớp I, II, III (Class I, Class II, Class III). Class I: Có các nhóm (loci): ký hiệu là A, B, C, E, F, G, J… trong đó A, B, C có vai trò quan trọng trong chức năng của lớp I. Class II: Có các nhóm DR, DQ, DN, DN, DP.
Trong đó, DR, DQ có vai trò quan trọng trong chức năng của lớp II. Class III: Vùng của các thành phần tế bào và bổ thể: C2, C4, Bf, TNF α, TNF β. Bản đồ vùng gen mã hoá HLA [69] HLA lớp I HLA lớp I gồm 3 locus chính là HLA-A, B, C, mã hóa cho các glycopeptide, chúng biểu hiện trên bề mặt của hầu hết các tế bào có nhân của cơ thể. Ngoài ra, chúng được tìm thấy ở dạng hòa tan trong huyết tương và được hấp phụ lên bề mặt của tiểu cầu.
Hồng cầu cũng hấp phụ kháng nguyên HLA lớp I ở mức độ khác nhau tùy thuộc vào đặc trưng (ví dụ như HLA-B7, A28 và B57 được nhận biết trên hồng cầu còn được gọi là kháng nguyên "Bg"). Các nghiên cứu miễn dịch học chỉ ra rằng HLA-B có tính đa hình cao nhất và cũng là locus HLA lớp I có vai trò quan trọng Luận văn thạc sĩ khoa học 2015 - 2017 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lê Xuân Thịnh K24 - Sinh học nhất, tiếp theo là HLA-A và sau đó HLA-C. Ngoài ra, HLA lớp I còn có các locus khác như HLA-E, F, G, H, J, K và L nhưng hầu hết trong số này không có vai trò trong "trình diện peptide" [56]. Các kháng nguyên HLA lớp I bao gồm một chuỗi nặng glycopeptide xuyên màng (45 kDa) với ba domain (α1, α2, α3), liên kết không đồng hóa trị với một chuỗi nhẹ ngoại màng β2-microglobulin (12 kDa, mã hóa bởi một gen ngoài hệ thống HLA, không có tính đa hình) đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cấu trúc của chuỗi nặng.
Các phân tử HLA lớp I được tổng hợp bên trong tế bào và cuối cùng định vị trên bề mặt tế bào với một phần ở lớp lipid kép của màng tế bào và có một phần đuôi ngắn nằm trong tế bào chất [71]. Về mặt cấu trúc không gian, phân tử HLA lớp I tạo ra một khe có thể chứa được một peptide dài 9 axit amin. Do sự đa hình của các locus lớp I, nhất là vùng mã hóa domain α1 và α2, số peptide có thể tổ hợp được rất đa dạng lên tới 1011 [60]. Phần ngoài màng Hình 1.
Cấu trúc phân tử HLA lớp I và lớp II [69] Trong thực tế, nếu một tế bào bị nhiễm virus, các protein trong tế bào sẽ “cắt xén” virus thành các peptide nhỏ, sau đó những peptide được gắn vào khe liên kết của các phân tử HLA lớp I. Vai trò của các phân tử HLA lớp I là trình diện những mảnh peptide (kháng nguyên) này trên bề mặt tế bào nhiễm cho tế bào T CD8 trong các Luận văn thạc sĩ khoa học 2015 - 2017 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.