MỞ ĐẦU Khí hậu đặc trưng của nước ta là nền nhiệt đới gió mùa, cùng với sự đa dạng về địa hình và thổ nhưỡng tạo nên thảm thực vật phong phú. Bên cạnh đó, nền y học cổ truyền có truyền thống từ lâu đời đã và đang sử dụng nhiều loài thực vật làm thuốc chữa bệnh. Võ Văn Chi, cây Xuyên tiêu (có tên gọi khác là Hoàng lực, Sưng, Trưng) tên khoa học Zanthoxylum nitidum (Roxb. Trong y học dân tộc, loài Z.
nitidum có nhiều tác dụng: giảm đau, sát trùng, tán hàn, giải độc tiêu thũng, sử dụng làm thuốc giúp sự tiêu hóa, chữa đau nhức khớp xương, đòn ngã ứ đau, viêm mủ da, viêm da, uốn ván, ho, viêm họng, sốt, sốt rét kinh niên, đau nhức khớp xương, phong thấp, đau thần kinh, rắn độc cắn, giun sán; có thể dùng dưới dạng thuốc sắc hoặc dùng ngoài [1]. Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy loài Zanthoxylum nitidum có thành phần chủ yếu là các alkaloid và lignan; ngoài ra còn có một số coumarin, terpenoid và steroid; trong đó có nhiều hợp chất có tác dụng sinh học đáng quí như: kháng VSVKĐ, kháng virus, kháng viêm giảm đau, chống sốt rét, chống co thắt,…. Tuy nhiên, ở nước ta, cho tới nay mới chỉ thấy có một vài nghiên cứu ban đầu về thành phần hóa học của loài Zanthoxylum nitidum, chưa có các nghiên cứu đầy đủ về thành phần hóa học cũng như hoạt tính sinh học. Chính vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài Zanthoxylum nitidum thuộc họ Rutaceae ở Việt Nam”.
Mục tiêu của luận án: Nghiên cứu thành phần hóa học của loài Zanthoxylum nitidum ở Việt Nam. Khảo sát hoạt tính kháng nấm, kháng khuẩn và hoạt tính gây độc tế bào của các hợp chất phân lập được để tìm kiếm hợp chất có hoạt tính sinh học. Nghiên cứu mối tương quan giữa cấu trúc và hoạt tính kháng u của một số hợp chất phân lập được. Nội dung của luận án: 1.
Phân lập các hợp chất từ thân cành loài Zanthoxylum nitidum ở Việt Nam bằng các phương pháp sắc ký; 2. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất sạch phân lập được bằng các phương pháp hóa lý hiện đại; 2 3. Khảo sát hoạt tính kháng nấm, kháng khuẩn và hoạt tính gây độc tế bào của các hợp chất phân lập được từ thân cành loài Zanthoxylum nitidum; 4. Nghiên cứu mối tương quan cấu trúc - hoạt tính kháng u của một số hợp chất phân lập được sử dụng phương pháp mô phỏng tương tác phân tử; 5.
Định lượng hàm lượng hoạt chất chính trong các bộ phận (lá, quả, thân, cành, rễ) của loài Zanthoxylum nitidum; 6. Nghiên cứu thành phần, hàm lượng, hoạt tính sinh học của tinh dầu từ các bộ phận lá, quả, thân của loài Zanthoxylum nitidum. Đặc điểm thực vật chung của chi Zanthoxylum Chi Hoàng mộc (Zanthoxylum) là một chi lớn thuộc họ Cam (Rutaceae), bộ Bồ hòn (Sapindales), có khoảng 250 loài được phân bố trên thế giới ở các nước thuộc vùng ôn đới ấm áp hoặc nhiệt đới [2, 3]. Theo tác giả Lã Đình Mỡi các loài trong chi Zanthoxylum có các đặc điểm thực vật sau: Cây thường xanh và rụng lá hàng năm, dạng bụi hoặc gỗ nhỏ, thường cao 5-15m, mọc thẳng hoặc trườn, leo; cá biệt có loài là cây gỗ lớn cao 35m với đường kính thân ngang ngực đạt 60cm (như loài Z.
rhetsa); vỏ ngoài có màu nâu nhạt hay xám, nhiều gai nhọn; vỏ trong thơm có nhiều sơ; Lá có dạng kép lông chim lẻ hoặc chẵn; có cuống; không có lá kèm; có 5-12 đôi lá chét, có có mép nguyên hoặc khía răng cưa, mọc đối hoặc mọc cách; Cụm hoa có nhiều hình dạng: hình chùm, hình xim hoặc hình chùy mọc ở nách lá hay mọc ở đầu cành; Hoa đơn tính hay lưỡng tính; nhị 4-6, thường thoái hóa ở hoa cái; bầu thượng, 1-5 lá noãn; ở hoa đực bầu và nhụy thoái hóa; Quả nang gồm 1-5 ô rồi hoặc dính nhau ở phía dưới; Hạt gần hình cầu hoặc hình trứng, màu đen hoặc đỏ, bóng [3]. Phân bố của các loài Zanthoxylum ở Việt Nam Ở nước ta, chi Zanthoxylum có 11 loài [4], các loài phân bố ở nhiều địa phương trên toàn quốc, đặc biệt ở các vùng như: vùng đất ven rừng, núi đất hay núi đá hoặc lùm bụi ở trung du. Chi tiết về các loài được mô tả trong bảng 1. Các loài Zanthoxylum phân bố ở Việt Nam STT Tên khoa học Tên tiếng việt Phân bố [3-5] 1.
acanthopodium Sẻn Ở vùng ven rừng, nơi có độ DC. cao 1500-2000m: Ngọc Lĩnh, Bù Đăng, Langbiang, Gia Lai, Kon Tum, Đồng Nai (Bidoup). Sẻn gai, Đắng cay. Lào Cai (Sa Pa), Cao Bằng, Lạng Sơn, Hòa Bình… 3.
evoidiifolium Hoàng mộc phi, Đắng Vọng Phu, Nha Trang. Guillaumin cay ba lá, Sẻn lá, Dấu dầu 4. avicennae Hoàng mộc dài, Muồng Khắp rừng núi các tỉnh miền (Lamk. truổng Bắc, miền Trung, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Huế, Đà 4 Nẵng… 5.
Hoàng mộc cánh- bầu Hà Nội, Hòa Bình, Nha cucullatipetalum Trang, Phan Rang. laetum Drake Hoàng mộc sai Lạng Sơn. Hoàng mộc hôi, sẻn hôi, Sơn La, Hòa Bình, Biên Cóc hôi, Vàng me, Xong Hòa. myriacanthum Hoàng mộc nhiều gai, Sapa, Ba Vì, Vĩnh Phúc, Wall.
Sẻn lá to Đắk, Lắk, (Krông Pắc), Ninh Thuận (Phan Rang, Cà Ná), Đồng Nai (Trảng Bom, Biên Hòa), Bảo Lộc.) Hoàng lực, Xuyên tiêu, Ven rừng, lùm bụi, từ Bắc DC. Hoàng liệt, Sưng, Sang, vào Nam. Sang láng, Sẻn 10. scabrum Dây khắc dung, cây rau Hòa Bình, Thanh Hóa Guillaumin sâng 11.
scandens Blume Hoàng mộc leo, Đắng ở rừng miền Bắc và miền cay leo Trung, thường mọc tự nhiên ở các tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Ninh Bình tới Lâm Đồng. (ảnh từ nguồn - epharmacognosy.com) (ảnh từ nguồn - YDHVN. (ảnh từ nguồn - tracuuduoclieu.vn) (ảnh từ nguồn - tracuuduoclieu. cucullatipetalum Guillaumin Zanthoxylum laetum (ảnh tiêu bản từ nguồn (ảnh tiêu bản từ nguồn https://www.org https://powo.org/taxon /occurrence/694416109) /urn:lsid:ipni.
(ảnh từ nguồn - tracuuduoclieu.vn) (ảnh tiêu bản từ nguồn https://powo.org /taxon/urn:lsid:ipni. scabrum Guillaumin (ảnh từ nguồn - tracuuduoclieu.vn) (ảnh từ - cây cỏ Việt Nam- GS.Phạm Hoàng Hộ) Z. scandens Blume (ảnh tiêu bản từ nguồn https://powo.org/taxon/urn:lsid:ipni.org:names:776009-1 Hình 1. Hình ảnh các loài thuộc chi Zanthoxylum ở Việt Nam 1.
Công dụng của các loài thuộc chi Zanthoxylum trong y học dân tộc Trong y học dân gian của nhiều nước trên thế giới, nhiều loài Zanthoxylum được sử dụng làm thuốc chữa trị ung thư, ví dụ như: Ở Trung Quốc, rễ của loài Z. ailanthoides được sử dụng điều trị kháng viêm và ung thư [6]; lá và rễ cây Z. gilletii được người dân vùng Kakamega, Kenya dùng theo đường uống để chữa ung thư vú và ung thư da [7]; quả một số loài Zanthoxylum được người dân Ấn Độ và Hàn Quốc dùng làm gia vị để có tác dụng ngăn ngừa ung thư [8, 9]; người dân Cameron dùng làm thuốc chữa thiếu máu do bệnh hồng cầu hình lưỡi liềm [10] và người dân 7 Nhật Bản sử dụng làm một trong những thành phần chính của bài thuốc cổ truyền Daikenchuto để chữa trị các bệnh về đường tiêu hóa và mãn tính [11]. Trong y học Hàn Quốc, vỏ thân loài Z.
coreanum được sử dụng để điều trị thấp khớp, đau răng, khó tiêu, đau họng, tê bì chân tay và viêm xoang [12]. Tất cả các bộ phận của loài Z. armatum được sử dụng làm thuốc, lá và quả được sử dụng để hạ sốt, ngoài ra quả của loài này còn được sử dụng làm chắc khỏe răng, giảm ê buốt, chữa khó tiêu, đau dạ dày [13, 14]. Ở Việt Nam, theo các tác giả Võ Văn Chi [1], Phạm Hoàng Hộ [4] và Đỗ Tất Lợi [5], có 09 loài thuộc chi Zanthoxylum được sử dụng trong y học dân gian để trị bệnh, bên cạnh đó có loài được người dân địa phương dùng làm gia vị (Bảng 1.
Công dụng của các loài thuộc chi Zanthoxylum ở Việt Nam. STT Tên loài khoa học Tên tiếng việt Sử dụng trong dân gian [1, 4, 5] 1. acanthopodium Sẻn Chữa đau dạ dày, phong thấp đau DC. nhức khớp xương, thương tổn bên trong gây đau bụng do lao động quá sức”.
Sẻn gai, Đắng Quả và hạt có nhiều tác dụng: trị cay. sốt, chữa đau bụng nôn mửa, rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy, phong thấp, đau nhức, mẩn ngứa, ho ra đờm lỏng. Bên cạnh đó quả và hạt dùng để ngâm rượu uống. Quả còn dùng nhai ngậm chữa đau răng.
Lá dùng ngoài trị đòn ngã sưng đau, ung thũng sang độc, mẩn ngứa ngoài da, mề đay, phong hủi; rễ trị nọc rắn; quả và hạt bổ, lợi tiểu. evoidiifolium Hoàng mộc phi, Quả và hạt ngâm rượu uống để làm Guillaumin Đắng cay ba lá, nóng, chữa đau bụng, chống nôn, Sẻn lá, Dấu dầu tả, lỵ. Quả nhai ngậm chữa chảy máu răng. avicennae Hoàng mộc dài, Lá nấu ăn, trị đòn ngã tổn thương, (Lamk.
Muồng truổng đau thắt lưng, viêm tuyến vú, nhọt và viêm mủ da. Rễ, vỏ thân, vỏ rễ chữa: mẩn ngứa, lở loét, ghẻ, chảy nước. Quả chữa dạ dày, đau bụng… 5. Hoàng mộc hôi, Hạ nhiệt, trị tê thấp, trị viêm cuống 8 Sẻn hôi, Cóc hôi, phổi, suyễn, ra nước miếng nhiều.
Vàng me Quả và hạt chữa đầy hơi, tiêu chảy, thấp khớp. Vỏ rễ: trục giun. Vỏ thân trị tiêu chảy, sốt rét, thấp khớp, mất trương lực của dạ dày. Lá non được dùng làm gia vị.
Tinh dầu hạt chữa thổ tả. myriacanthum Hoàng mộc Quả làm gia vị. Lá và rễ trị sán Wall. nhiều gai, Sẻn lá khí, phong thấp tê đau, đòn ngã tổn to thương, gãy xương, mụn nhọt, lở ngứa, xuất huyết bỏng lửa, đầy hơi.
Vỏ rễ làm thuốc điều kinh, trừ giun. Vỏ thân chữa tiêu chảy, sốt rét, thấp khớp, tiêu hóa kém.) Hoàng lực, Rễ và vỏ rễ trị nhức xương khớp, DC. Xuyên tiêu, phong thấp, thượng vị, đau răng, Sưng, Sang, rắn cắn, viêm da… Quả trị giun, Sang láng đau bụng nôn mửa, chữa ho, viêm họng… Lá được dùng làm gia vị, nấu canh… 8. scabrum Dây khắc dung, Vỏ dùng như thuốc bổ.
Rễ trị bệnh Guillaumin cây rau sâng như: thấp khớp, mẩn ngứa, lở loét, chảy nước. Quả trị đau bụng, đau dạ dày. Lá có nhiều công dụng: chữa đau thắt vùng lưng, viêm tuyến vú, nhọt và viêm mủ da. scandens Blume Hoàng mộc leo, Chữa ra mồ hôi, hạ nhiệt, lợi kinh.
Đắng cay leo Quả chữa sưng phù; lá chữa phong hủi. Tình hình nghiên cứu về chi Zanthoxylum trên thế giới Trên thế giới, chi Zanthoxylum họ Rutaceae đã được tìm hiểu từ rất sớm. Năm 1911, hai alkaloid là α- và β-xantherine đã được tìm thấy từ loài Z. ochroxylon [15] và một hợp chất amid là fagaramid được tìm thấy ở loài Z.
Ngay sau đó, năm 1913, Jowett và Pyman đã tìm thấy hai hợp chất alkaloid khác là 1-α- canadine methochloride và chelerythrine có trong loài Z.